- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 202 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2017/HSST Ngày: 11/12/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Quảng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tỵ, bà Nguyễn Thị Hải Yến.
- Thƣ ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuận - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Huy - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 11 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2017/HSST, ngày 22 tháng 11 năm 2017, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1978; tại: Đồng Nai; nơi ĐKHKTT và cư trú: Ấp P 1, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: Lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Nguyễn Văn V (Đã chết); con bà Phan Thị H, sinh năm 1954, hiện sinh sống tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; bị cáo là con thứ năm trong gia đình có sáu anh em; vợ là: Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1981, hiện sinh sống tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; bị cáo có hai con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, (Có mặt).
Người bị hại: Anh Phan Ngọc T1, (Đã chết);
Người đại diện hợp pháp của anh T1: Chị Đào Kiều H, sinh năm 1975 (Là vợ anh T1 - Vắng mặt);
Trú tại: Số X đường L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đỗ Minh Đ, sinh năm 1980, (Có mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/11/2014; vào tối ngày 12 7 2017, T điều khiển xe ô tô biển số 60C-067.XX cùng phụ xe là anh Nguyễn Hào P, chở cá từ chợ Phương Lâm, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai đi giao tại các chợ đầu mối thuộc địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Sau khi giao hàng xong thì T điều khiển xe về lại huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Khoảng 05 giờ 30 phút sáng ngày 13 7 2017, khi xe của T chạy tới Km 125+700 Quốc lộ 20, thuộc địa bàn xã Lộc Nga, thành phố Bảo Lộc, lúc này vì mệt nên T đã ngủ gật, khi giật mình tỉnh dậy thì T thấy phía trước, cách đầu xe của mình khoảng 04m có một xe máy cày do anh Phan Ngọc T1 điều khiển chạy cùng chiều. Thấy vậy T đạp phanh và đánh tay lái sang bên trái để tránh, nhưng do khoảng cách quá gần nên phần đầu bên phải xe ô tô của T đã tông vào phần đuôi xe cày. Sau khi tông xe cày bị đẩy về phía trước và lật nghiêng sang lề đường bên phải theo hướng từ Đà Lạt đi thành phố Hồ Chí Minh, còn anh T1 bị hất văng khỏi xe, sau đó được mọi người đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong.
Hiện trường xảy ra tai nạn giao thông được xác định tại Km 125+700 Quốc lộ 20, thuộc địa bàn xã Lộc Nga, thành phố Bảo Lộc. Mặt đường trải nhựa bê tông phẳng, hơi cong về bên phải theo hướng từ Đà Lạt đi thành phố Hồ Chí Minh, rộng 11m, ở giữa có vạch sơn trắng liền nét kẻ tim đường. Phần đường ở giữa (dành cho xe cơ giới) rộng 6,80m, làn xe cơ giới bên phải hướng từ Đà Lạt đi thành phố Hồ Chí Minh rộng 3,35m. Hai bên là làn đường dành cho xe thô sơ rộng 1,88m. Lấy vạch sơn trắng phân chia làn đường xe cơ giới và xe thô sơ của phần đường bên phải theo hướng từ Đà Lạt đi thành phố Hồ Chí Minh làm chuẩn, đo đến các vị trí, dấu vết trên hiện trường như sau:
Số 01, là vết phanh của xe ô tô 60C-067.XX để lại trên mặt đường bên phải tạo thành một vết lết, theo hướng từ Đà lạt đi thành phố Hồ Chí Minh, kích thước 0,13x4,85m. Tâm điểm đầu vết lết cách mép chuẩn là 1,45m; điểm cuối vết lết cách mép chuẩn là 1,5m.
Sau va chạm xe máy cày để lại 02 vết chà lết cao su kéo dài đứt đoạn (số 2) và (số 3) ở phần đường bên phải theo hướng từ Đà Lạt đi thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó vết chà lết số 02 có chiều rộng 0,35m kéo dài tới vị trí xe máy cày đổ sau tai nạn là 23,2m; tâm điểm đầu số 02 cách mép chuẩn là 0,15m, cách tâm số 01 là 3,1m. Vết chà lết số 03 có chiều rộng 0,35m, kéo dài tới vị trí xe máy cày đổ sau tai nạn là 23,1m; tâm điểm đầu số 03 cách mép chuẩn là 01m.
Sau tai nạn xe máy cày bị đẩy về phía trước và lật nghiêng sang bên phải (số 04), đầu xe quay về hướng Đà Lạt, điểm nối giữa đầu xe và thùng xe bị cong vênh, làm thùng xe quay về hướng Đà Lạt. Tâm trục bánh trước bên phải và tâm trục bánh sau bên phải xe máy cày cách mép chuẩn là 01m;
Sau khi tông vào xe máy cày, xe ô tô 60C-067.XX tiếp tục chạy về phía trước và dừng lại ở phần đường bên phải theo hướng từ Đà Lạt đi thành phố Hồ Chí Minh (số 05). Đầu xe hướng về thành phố Hồ Chí Minh, tâm trục bánh trước bên phải cách mép chuẩn là 1,8m; tâm trục bánh sau bên phải cách mép chuẩn là 1,65m và cách tâm trục bánh sau bên phải xe máy cày là 19,2m.
Như vậy, nguyên nhân chính d n tới tai nạn giao thông là do bị cáo T điều khiển xe ô tô trong tình trạng buồn ngủ, không chú ý quan sát gây tai nạn với xe máy cày do anh Phan Ngọc T1 điều khiển chạy cùng chiều, vi phạm vào khoản 23 điều 8 Luật giao thông đường bộ.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 249, ngày 21 7 2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận, anh Phan Ngọc T1 chết do chấn thương sọ não do tai nạn giao thông.
Tại bản cáo trạng số 111/CT-VKS, ngày 21 tháng 11 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 202, các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
Bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận, đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì về nội dung Cáo trạng; bị cáo thấy đúng với tội của mình, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Bị cáo Nguyễn Văn T đã học lái xe và được cấp Giấy phép lái xe hạng C; bị cáo biết rõ khi điều khiển xe trên đường thì phải luôn giữ trạng thái tinh thần tỉnh táo và chú ý quan sát để tránh tai nạn xảy ra, nhưng bị cáo đã không chấp hành. Vào tối ngày 12 7 2017 bị cáo đã điều khiển xe ô tô từ huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai đi giao hàng tại các chợ đầu mối thuộc tỉnh Lâm Đồng; do đường xa lại chạy xe suốt đêm, vì vậy khi chạy xe đến địa bàn xã Lộc Nga, thành phố Bảo Lộc thì bị cáo đã buồn ngủ và tông vào xe máy cày do anh Phan Ngọc T1 điều khiển chạy cùng chiều; hậu quả làm anh T1 chết, xe máy cày bị hư hỏng. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 23 điều 8 Luật giao thông đường bộ, có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất hành vi do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, hành vi trên không những xâm phạm đến tính mạng của người cùng tham gia giao thông khác mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, vì vậy cần phải lên cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng thấy rằng, bị cáo phạm tội lần đầu, thật thà khai báo; sau tai nạn đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, đại diện người bị hại có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hơn nữa trong vụ tai nạn này thì người bị hại cũng có một phần lỗi, đó là anh T1 không có Giấy phép lái xe theo qui định; chiếc máy cày do anh T1 điều khiển là phương tiện bị đình chỉ lưu hành theo Nghị quyết số 32 2007 NQ-CP, ngày 29 6 2007 của Chính phủ.
Ngoài ra, theo khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 qui định, trong trường hợp bị cáo tự nguyện bồi thường và được đại diện người bị hại có đơn bãi nại giảm nhẹ hình phạt thì có thể miễn trách nhiệm hình sự; đây là qui định mới có lợi cho người phạm tội. Căn cứ vào khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự 2015; Nghị quyết số 41 2017 QH14, ngày 20 6 2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự 2015 thì bị cáo được áp dụng qui định này. Tuy nhiên, do tính chất lỗi và hậu quả của hành vi mà bị cáo gây nên là nghiêm trọng, vì vậy không miễn trách nhiệm hình sự mà coi đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Do đó cần áp dụng các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS 1999, khoản 3 Điều 29 BLHS 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần. Xét bị cáo có việc làm và nơi cư trú ổn định nên không cần cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 212.000.000đ; chị Đào Kiều H (là vợ anh T1) đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu gì nên không đề cập đến. Đối với anh Đỗ Minh Đ, là chủ sở hữu chiếc xe ô tô biển số 60C-067.XX do bị cáo điều khiển gây tai nạn làm hư hỏng, quá trình điều tra và tại phiên tòa anh Đ không yêu cầu gì nên cũng không đề cập đến.
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô.
Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí số 97/2015, Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14, ngày 30 12 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 202; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật Hình sự 1999, khoản 3 Điều 7, khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015; Nghị quyết số 41 2017 QH14, ngày 20 6 2017 của Quốc hội; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Phú Lâm, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo có sự thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án được thực hiện theo qui định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô mang tên Nguyễn Văn T (Đã trả).
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đối với người vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng - VKSND tỉnh Lâm Đồng - VKSND thành phố Bảo Lộc - Người tham gia tố tụng - Chi cục T.H.A. - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khắc Quảng |