- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lầu A S và đồng phạm. - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lầu A S và Lầu A M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2017/HSST Ngày: 26-9-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lò Thị Xuyến.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Khuyên.
2. Ông Đặng Văn Định.
3. Ông Đoàn Văn Chì.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Hải Nam, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Lò Xuân Thủy, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2017/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/HSST-QĐ ngày 15 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đối với các bị cáo:
1. Lầu A S, sinh năm: 1993, tại tỉnh Điện Biên. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản T, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm nương; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Mông; tiền án: Không, tiền sự: Không; con ông: Lầu Phái D, sinh năm: 1969 và bà: Sùng Thị C, sinh năm: 1970; bị cáo chưa có vợ, con; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2017 cho đến nay. Có mặt.
2. Lầu A M, sinh năm: 1990, tại huyện M, tỉnh Điện Biên.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản T, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm nương; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Mông; tiền án: Không, tiền sự: Không; con ông: Lầu Phái D, sinh năm: 1969 và bà: Sùng Thị C, sinh năm: 1970; có vợ: Hờ Thị G, sinh năm: 1994 và có 02 người con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2017 cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lầu A S: Ông Phạm Đình K, Luật sư Văn phòng luật sư T thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Điện Biên. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lầu A M: Bà Trần Thị S, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 04/6/2017, Lầu A S đi sang nhà anh trai, là Lầu A M ở cùng bản đặt vấn đề và rủ M dùng xe máy chở S đi mua Hêrôin mang về bán kiếm lời và sẽ trả công cho M là 1.000.000 đồng (một triệu đồng), M đồng ý. S quay về nhà, lấy tiền và xe máy sang đón M cùng đi. S chở M đi được khoảng 10 km thì đổi lái cho M điều khiển xe. Trên đường đi, M hỏi S mang theo bao nhiêu tiền để mua Hêrôin, S trả lời là có mang theo một ít tiền để mua Hêrôin, S dặn M chở S đến khu vực bản N, xã H, huyện Đ thì dừng lại để S tự đi bộ sang Lào tìm mua Hêrôin, khi nào mua được, S sẽ gọi điện thoại hoặc nhắn tin cho M đến đón. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, S và M đi đến đoạn đường gần bản N, xã H, huyện Đ dừng lại, S xuống xe đi bộ một mình theo hướng bản N rồi đi theo đường rừng sang địa phận xã N, huyện Đ vượt biên giới đi sang Lào để mua Hêrôin. Còn M đi xe máy quay về nhà đợi S mua được Hêrôin thì đi đón.
Khoảng 09 giờ ngày 05/6/2017, S đi đến một lán nương gặp một người đàn ông dân tộc Mông người Lào khoảng 35 tuổi, S không biết tên, địa chỉ. S làm quen và đặt vấn đề hỏi mua Hêrôin, người đàn ông hỏi S mua bao nhiêu, S trả lời mua 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) Hêrôin, rồi lấy số tiền mang theo đưa cho người đàn ông, người này nhận tiền S đưa cho và đếm kiểm tra, sau đó đi vào trong lán nương lấy Hêrôin và 01 chiếc cân tiểu ly, người này hỏi S có muốn thử Hêrôin không, S trả lời không biết thử và nói tin tưởng nhau là chính, nếu mang về bán hết thì sẽ quay lại mua tiếp. Người đàn ông cân đủ 03 cây Hêrôin, gói vào 02 túi nilon màu trắng đưa cho S, tiếp đó người đàn ông cho S một gói nhỏ Hêrôin và bảo mang về cho khách thử. S gói 03 gói Hêrôin vào trong một túi nilon màu đen và cất vào túi quần đang mặc trên người rồi đi bộ quay về Việt Nam. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, S đi về đến khu vực xã N, huyện Đ thì nhắn tin cho M thông báo đã mua được Hêrôin, bảo M đón S. Khoảng 20 giờ, S về đến điểm hẹn thì thấy M đang đợi, M hỏi S có làm sao không, S trả lời không sao, anh em mình đi về, rồi lấy Hêrôin trong túi quần đang mặc cầm ở tay với mục đích nếu bị phát hiện thì sẽ ném đi và ngồi lên sau xe máy. Lúc này, M thấy S cầm gói Hêrôin ở tay và ngồi lên sau xe liền điều khiển xe máy chở S về. Khi M và S đi đến khu vực bản N1, xã H, huyện Đ thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 06/6/2017 vật chứng thu giữ của Lầu A S và Lầu A M, 03 gói Hêrôin có tổng trọng lượng là 115,08 gam.
Bản Kết luận giám định số: 556/GĐ-PC54 ngày 08/7/2017 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:
“03 (ba) mẫu chất bột màu trắng gửi giám định được trích ra từ vật chứng thu giữ của Lầu A S, Lầu A M là chất ma túy: Loại Hêrôin”.
Bản Cáo trạng số: 52/QĐ-VKS-P1 ngày 13/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố các bị cáo Lầu A S, Lầu A M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 194/BLHS.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Lầu A S, Lầu A M về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lầu A S 20 năm tù, xử phạt bị cáo Lầu A M 20 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo. Về vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe máy mang tên Lầu A S do không còn giá trị sử dụng; tịch thu, bán sung ngân sách Nhà nước: 01 xe máy, 02 điện thoại của các bị cáo Lầu A S, Lầu A M do các bị cáo đã sử dụng làm phương tiện phạm tội; đối với những giấy tờ, tài sản khác, do không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho các bị cáo Lầu A S, Lầu A M.
Người bào chữa cho bị cáo Lầu A S nhất trí với nội dung bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, án phí và hình phạt bổ sung. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Lầu A M đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, thái độ ăn năn của bị cáo, bị cáo sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, chưa có tiền án, tiền sự, tham gia quá trình thực hiện hành vi phạm tội với vai trò người giúp sức, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự, Điều 20, Điều 53 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số: 41/2017/QH14, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Tại phiên tòa, các bị cáo Lầu A S, Lầu A M không có ý kiến gì về tội danh, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết đi ̣nh tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Điê ̣n Biên, Viê ̣n kiểm sát nhân dân tinh Điê ̣n Biê ̣n, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trinh
̉
̀ điều tra, truy tố đa thự̃
c hiê ̣n đúng về thẩm quyền, trinh tự, thủ tục quy đi ̣nh của Bộ
̀ luâ ̣t Tố tụng Hinh sự. Các bi ̣ cáo không có ý kiến hoă ̣c khiếu na ̣i về hành vi, quyết
̀ đi ̣nh của cơ quan tiến hành tố tụng, ngườ i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đi ̣nh tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngườ i tiến hành tố tụng đa thự̃
c hiê ̣n đều hợp pháp.
Tại phiên tòa Lầu A S khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 04/6/2017, Lầu A S sang rủ Lầu A M đi tìm mua Hêrôin về bán kiếm lời. M là người đưa đón và được S trả công là 1.000.000 đồng (một triệu đồng), M nhất trí. Sau đó, S về nhà lấy tiền và xe máy đến đón M cùng nhau đi mua Hêrôin, đến khu vực bản N, xã H thì S xuống xe đi bộ vượt biên giới sang Lào để tìm mua Hêrôin, còn M quay về nhà. Khoảng 09 giờ ngày 05/6/2017, S đi đến một lán nương, gặp một người đàn ông dân tộc Mông người nước Lào, mua được 03 cây Hêrôin gói trong 02 túi nilon màu trắng với số tiền 15.000.000 đồng và được cho thêm 01 túi nhỏ Hêrôin mang về cho khách thử. S nhắn tin thông báo cho M đã mua được Hêrôin và bảo M đến đón. Khoảng 20 giờ cùng ngày M và S đang trên đường về đến khu vực bản N1, xã H, huyện Đ, thì S và M bị tổ công tác Công an huyện Đ bắt giữ. Lời khai của Lầu A S phù hợp với các lời khai của Lầu A M, cũng như phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 05/6/2017 tại Uỷ ban nhân dân xã H (Bút lục số 01-04); Biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng ngày 06/6/2017 (Bút lục số 63, 64). Như vậy, Hội đồng xét xử thấy tuy bị cáo Lầu A M không phải là người trực tiếp đi mua Hêrôin nhưng bị cáo là người biết được bị cáo S đi mua Hêrôin và cũng là người trực tiếp chở và đón bị cáo S nên bị cáo M cũng phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng trọng lượng Hêrôin là 115,08 gam nên có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Lầu A S và Lầu A M đã có hành vi mua bán trái phép 115,08 gam Hêrôin.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố các bị cáo Lầu A S, Lầu A M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 194 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.
Nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án: Bị cáo S và bị cáo M có đủ nhận thức để hiểu được các tác hại của ma túy, biết pháp luật cấm đối với mọi hành vi liên quan đến ma túy. Nhưng các bị cáo đã bất chấp pháp luật, vẫn tiến hành mua bán 115,08 gam Hêrôin, mục đích kiếm lời phục vụ nhu cầu ích kỷ của bản thân. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác và làm gia tăng người sử dụng ma túy trong xã hội. Do đó, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Xét về nhân thân và các tình tiết khác của các bị cáo: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, thể hiện: Cả hai bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này, hành vi mua bán trái phép chất ma túy của hai bị cáo là đồng phạm giản đơn, người bào chữa cho bị cáo Lầu A M đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự, Điều 20, Điều 53 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số: 41/2017/QH14, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo, nhưng, HĐXX thấy rằng, tuy bị cáo không phải là người trực tiếp sang Lào để mua Hêrôin cùng bị cáo Lầu A S, nhưng bị cáo là người chở S đi mua Hêrôin và đã cùng với Lầu A S vận chuyển Hêrôin về, nếu không được phát hiện và ngăn chặn kịp thời thì hậu quả gây ra là đặc biệt nghiêm trọng nên HĐXX không chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Lầu A M về việc áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 và áp dụng mức khởi điểm của khung hình phạt cho hai bị cáo là phù hợp.
Xét hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triê ̣u đồng đến năm trăm triê ̣u đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiê ̣m chứ c vụ, cấm hà nh nghề hoặc là m công viê ̣c nhất đi ̣nh từ một năm đến năm năm”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là ngườ i làm nương, không có thu nhập và theo Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã X thì gia đình hai bị cáo không có tài sản gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với hai bị cáo.
Về vật chứng:
- Toàn bộ số lượng ma túy còn lại sau khi giám định cần tịch thu, tiêu hủy,
- Đối với chiếc xe máy của bị cáo Lầu A S dùng làm phương tiện để đi mua ma túy và 02 chiếc điện thoại các bị cáo đã dùng để liên lạc trong quá trình mua ma túy nên cần ti ̣ch thu, bán hóa giá, sung ngân sách Nhà nướ c.
Đối với giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 075637 mang tên Lầu A S, tại phiên tòa S xác nhận đó chính là giấy chứng nhận đăng ký của chiếc xe biển kiểm soát: 27B1-ank đã bị Cơ quan điều tra thu giữ nên Hội đồng xét xử cần tịch thu, tiêu hủy giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô trên.
- Trả lại các loại giấy tờ tùy thân không liên quan đến hành vi phạm tội của hai bị cáo.
Án phí: Cả hai bị cáo đều sinh sống tại bản T, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong hồ sơ thể hiện: Đối tượng bán Hêrôin cho Lầu A S, quá trình điều tra, bị cáo S khai không biết tên, địa chỉ của người này, việc mua ma túy diễn ra tại nước CHDCND Lào. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên không có căn cứ để xác minh, điều tra làm rõ. Nên Hô ̣i đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vu ̣ án này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Lầu A S và Lầu A M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng: Điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 20, Điều 53 Bộ luật Hình sự; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lầu A S: 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/6/2017.
Xử phạt bị cáo Lầu A M: 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/6/2017.
3. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo.
4. Xử lý vật chứng. Căn cứ Điều 41 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự, Điều 76 Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng
̀ Hinh sự: ̀
- Tịch thu, tiêu hủy:
+ Toàn bộ số Hêrôin của vụ án: Tổng trọng lượng Hêrôin: 115,08 gam, đã trích mẫu gửi giám định: 1,5 gam, còn lại: 113,58 gam.
+ 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 075637 mang tên: Lầu A Sềnh, thu giữ của Lầu A S.
- Tịch thu, bán hóa giá sung ngân sách Nhà nước:
+ 01 (một) xe máy nữ, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu xám-đen, biển số: 27B1-abc, số khung: RLCUE1710FY031976, số máy: E3T6E-043217, thu giữ của Lầu A S.
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu GIONEE - L800 màu đỏ-đen, loại bàn phím bấm, điện thoại cũ đã qua sử dụng, thu giữ của Lầu A S.
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đỏ, viền trắng, loại bàn phím bấm, điện thoại cũ đã qua sử dụng, thu giữ của Lầu A M.
- Trả lại cho bị cáo Lầu A S:
+ 01 (một) ví giả da màu đen cũ, thu giữ của Lầu A S.
+ 01 (một) giấy chứng nhận công an viên số: 07160604 mang tên Lầu A S, thu giữ của Lầu A S.
+ 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô - xe máy số: 011448053 mang tên Lầu A S, thu giữ của Lầu A S.
+ 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số: 040732895 mang tên Lầu A S, thu giữ của Lầu A S.
- Trả lại cho bị cáo Lầu A M:
+ 01 (một) ví giả da màu đen cũ, thu giữ của Lầu A M.
+ 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 002828 mang tên Lầu A M, biển số đăng ký: 27Y1-xyz, thu giữ của Lầu A M.
+ 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 011176 mang tên Lầu A M, biển số đăng ký: 27B1-mhi, thu giữ của Lầu A M.
+ 02 (hai) giấy chứng minh nhân dân số: 040472992 mang tên Lầu A M, thu giữ của Lầu A M.
+ 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô - xe máy số: 160043455 mang tên Lầu A M, thu giữ của Lầu A M.
+ 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô - xe máy số: 160270812 mang tên Lầu A M, thu giữ của Lầu A M.
+ 01 (một) giấy phép lái xe số: 110127002325 mang tên Lầu A M, thu giữ của Lầu A M.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/8/2017 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Điện Biên).
5. Án phí: Áp dụng Điều 99 Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng Hinh sự và điểm đ khoản 1 Điều
̀ 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lầu A S, Lầu A M.
6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo Lầu A S, Lầu A M có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
ơ
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Điện Biên; - Công an tỉnh Điện Biên; - Trại tạm giam; - Cục THADS tỉnh Điện Biên; - Phòng HCTP - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lò Thị Xuyến |