vanban.org

Bản án 105/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 04/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

2- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS; điểm a,c khoản 2 Điều 76 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc mũ lƣỡi trai màu đỏ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 105/2017/HSST
Ngày 04/7/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Văn Cƣơng

Ông Lƣơng Văn Vịnh

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà:

Bà Hoàng Thị Nhung - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Sông Mã

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:

Ông Hoàng Văn Viên - Kiểm sát viên

Trong ngày 04 tháng 7 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 67/2017/HSST ngày 05 tháng 4 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Xuân T - Sinh năm 1977; Nơi ĐKHKTT: Bản L, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 3/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Xuân T , con bà Nguyễn Thi ̣ T ; Bị cáo có vợ là Trần Thị H và 02 con, hiện trú tại Bản L, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Tiền án, tiền sƣ̣: Không; Bị cáo bị bắt giữ, giam từ ngày 13/01/2017 đến nay - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời có quyền lợi liên quan: Phạm Văn T - Sinh năm 1983

Địa chỉ: Bản T, xã N, huyện S, tỉnh Sơn La - Vắng mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:

Hồi 14h30 ngày 13/01/2017 tổ công tác Công an huyê ̣n Sông Ma phỗ

́i hợp vớ i Ban Công an xa Chiềng Khƣơng , Đồn biên phòng cửa khẩu Chiềng̃ Khƣơng làm nhiê ̣m vu ̣ ta ̣i bản Liên Hồng , xã Chiềng Khƣơng, Sông Ma phã

́t hiê ̣n bắt quả tang Nguyễn Xuân T có hành vi bán chất ma tuý cho Pha ̣m Văn T trú tại bản T, xã N, huyện S, tỉnh Sơn La. Vật chƣ́ ng thu giữ đƣợc gồm: Thu của Phạm Văn T 01 gói nhỏ nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà (Phạm Văn T khai nhâ ̣n là Hêrôin vƣ̀ a mua của Nguyễn Xuân T ), 01 điê ̣n thoại di động; thu của Nguyễn Xuân T số tiền 200.000đ ( T khai là tiền vƣ̀ a bán Hêrôin cho Pha ̣m Văn T), 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng.

Ngày 17/01/2017 tại phòng kỹ thuật hình sự C ông an tinh Sơn La đã̉ thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong cân tịnh, xác định trọng lƣợng vật chứng và trích mẫu giám định. Kết quả cân ti ̣nh số bô ̣t màu trắn g ngà thu của Phạm Văn T có trọng lƣợng 0,03gam, đa dũ ̀ng hết làm mẫu giám đi ̣nh ký hiê ̣u là T.

Tại kết luận giám định số 215/KL-MT ngày 23/01/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gƣ̉ i giám đi ̣nh ký hiệu T là chất ma tuý; Loại chất Hêrôin; Trọng lƣợng mẫu gửi giám định là 0,03 gam”.

Quá trình điều tra Nguyễn Xuân T khai nhận: Khoảng 8h ngày 13/01/2017 T tƣ̀ nhà đi nhờ xe mô tô của mô ̣t ngƣờ i qua đƣờ ng lên chợ Chiềng Khƣơng, huyện Sông Ma rỗ ̀i đi bô ̣ sang khu vƣ̣c biên giớ i Viê ̣t - Lào để tìm mua ma tuý, khi đến cột mốc 206 thì T gă ̣p và hỏi mua đƣợc của mô ̣t ngƣờ i đàn ông quốc ti ̣ch Lào không quen biết đang chăn b

ò cạnh bờ sông Mã 01 gói nhỏ Hêrôin vớ i giá 100.000đ, mua bán xong T quay về nhà . Về đến nhà T đa trĩ ch ra

́ mô ̣t phần sƣ̉ du ̣ng bắng hinh thƣ́ c tiêm chich vào cơ thể

, số còn la ̣i chia làm

̀

́

thành 02 gói nhỏ đƣợc gói bằng giấy nilon màu xanh cất để ở túi quần đang mă ̣c mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Đến khoảng 13h cùng ngày thì có Phạm Văn T ở bản T, xã N, huyện S đến hỏi mua chất ma tuý , Nguyễn Xuân T đa lẫ ́y 02 gói Hêrôin bán cho Phạm Văn T lấy số tiền 200.000đ, mua bán xong Pha ̣m Văn T nói là vật quá nên xin đƣợc sử dụng ngay ta ̣i nhà T, Nguyễn Xuân T đồng ý và bảo Phạm Văn T đi xuống nhà bếp sƣ̉ du ̣ng , Phạm Văn T lấy một gói Hêrôin sử dụng bằng hình thức đốt, hít và có mời Nguyễn Xuân T cùng sƣ̉ du ̣ng nên Nguyễn Xuân T có hit mô ̣t hơi , khi sử dụng xong còn 01 gói Phạm Văn T

́ cất vào vành mũ lƣỡi trai đội lên đầu thì ngay sau đó bị phát hiện bắt quả tang , thu giƣ̃ vâ ̣t chƣ́ ng.

Do có hành vi nêu trên tại Cáo trạng số 30/KSĐT - MT ngày 05 tháng 4 năm 2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trƣớc Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Nguyễn Xuân T về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý - Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS xử phạt Nguyễn Xuân T từ 24 - 30 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Về vật chứng áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 BLTTHS xử lý theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY:

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Xuân T thừa nhận toàn bộ hành vi, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai nhƣ đã khai tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện - Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện tội phạm, phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, vật chứng bị thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Ngày 13/01/2017 sau khi mua đƣợc một gói Hêrôin Nguyễn Xuân T đã trích ra một phần để sử dụng, số còn lại Tung chia thành 02 gói với mục đích để bán kiếm lời, đến khoảng 13h cùng ngày T đã bán cho Phạm Văn T 02 gói Hêrôin lấy số tiền 200.000đ. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS có khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm tù.

Hội đồng xét xử thống nhất nhận định, đánh giá nhƣ sau:

Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức đƣợc việc Mua bán chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhƣng bị cáo đã bất chấp Pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nƣớc, làm ảnh hƣởng đến trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng tình trạng nghiện sử dụng chất ma túy, là mầm mống phát sinh tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải với việc làm của bản thân - Áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trọng lƣợng số ma túy bị thu giữ để có một mức án tƣơng xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành ngƣời có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phƣơng.

Về hình phạt bổ sung - Phạt tiền: Cơ quan điều tra đã làm rõ bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên cần miễn cho bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu sung công quỹ nhà nƣớc số tiền 200.000đ là tiền bán ma túy mà có; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động, trả lại cho Phạm Văn Thành 01 điện thoại di động; Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mũ lƣỡi trai.

Về vấn đề khác liên quan đến vụ án:

Đối với Phạm Văn T chƣa có tiền án về tội tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, do trọng lƣợng ma túy thu giữ không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Công an huyện Sông Mã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đảm bảo theo quy định.

Đối với ngƣời đàn ông quốc tịch Lào mà bị cáo khai là ngƣời đã bán Hêrôin cho bị cáo, do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của bị cáo ra không có chứng cứ nào khác, nên không có căn cứ để xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 26 ( hai mƣơi sáu ) tháng tù - Thời hạn thụ hình tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 13/01/2017).

2- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS; điểm a,c khoản 2 Điều 76 BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc mũ lƣỡi trai màu đỏ.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc số tiền 200.000đ ( hai trăm nghìn đồng ) đã thu của bị cáo, là tiền do phạm tội mà có.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân T 01 ( một ) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, số sêri 356698051862507

- Trả lại cho ngƣời có quyền lợi liên quan Phạm Văn T, địa chỉ: Bản T, xã N, huyện S 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, số sêri 356338051019283

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/4/2017giữa cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã).

3- Về án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS; Các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 04/7/2017, ngƣời có quyền lợi liên quan Phạm Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản sao bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.

Cỡ chữ