vanban.org

Bản án 1048/2024/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 11/11/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/11/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Không chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C và Nguyễn Anh K; kháng cáo của bị hại ông Nguyễn Văn A và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Khúc Hồng H; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 141/2023/HS-ST ngày 01/11/2023 của Tòa án…

Về tội danh, hình phạt: 1 Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C, Nguyễn Anh K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh H cùng đồn phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? I. Không chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C và Nguyễn Anh K; kháng cáo của bị hại ông Nguyễn Văn A và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Khúc Hồng H; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 141/2023/HS-ST ngày 01/11/2023 của Tòa án…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1048/2024/HS-PT
Ngày 11/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Ý

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Văn Công

Ông Ngô Mạnh Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh: Ông Vũ Thanh Sơn - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 1010/2023/TLPT-HS ngày 12/12/2023, do các bị cáo Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C, Nguyễn Anh K; bị hại ông Nguyễn Văn A người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Khúc Hồng H kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 141/2023/HS-ST ngày 01/11/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bình D.

Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:

1. Nguyễn Thanh H, sinh năm 1994, tại tỉnh Bình D; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp 1A, xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Lưu Thị V; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 25/02/2020 cho đến nay, có mặt.

2. Hoàng Anh V, sinh năm 1994, tại tỉnh Bình D; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 190, ấp 4, xã An Th, huyện Phú G, tỉnh Bình D; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn V và bà Trần Thị X; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 25/02/2020 cho đến nay, có mặt.

3. Lê Văn C, sinh năm 1977, tại tỉnh Hà N; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 17/11, khu phố Bình Quới B, phường Bình Ch, thành phố Thuận A, tỉnh Bình D; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C và bà Mai Thị V; có vợ tên là Trần Lê Nhi A và 03 con (lớn nhât sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2015) tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Bị Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D xử phạt 06 tháng 07 ngày tù về tội “Đánh bạc” (tại Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2016/HS-ST ngày 09/4/2016), đã chấp hành xong.

- Ngày 01/8/2022 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dương Minh Ch, tỉnh Tây N khởi tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Toà án nhân dân huyện Dương Minh Ch, tỉnh Tây N xử phạt 01 năm 06 tháng tù (tại Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2022/HS-ST ngày 15/12/2022). Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Tống Lê Ch của Bộ Công an, có mặt.

4. Nguyễn Anh K, sinh năm 1991, tại tỉnh Bình D; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 244/33/30, tổ 8, khu phố 5, phường Phú H, thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc Q và bà Thái Thị Minh T; có vợ Nguyễn Thị Phương Th và 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh H: Bà Trịnh Thị H là Luật sư Công ty Luật TNHH Hạnh M thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo V, Công, Kh: Ông Trần Thanh Ph là Luật sư của Công ty Luật TNHH Mỹ Ý thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

- Bị hại có kháng cáo:

Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1981; nơi thường trú: Xóm 16, xã Mỹ Th, huyện Yên Th, tỉnh Nghệ A; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:

Bà Khúc Hồng H, sinh năm 1984; nơi thường trú: Số 95/2/16, đường Bình L, Phường 13, quận Bình Th, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Minh H, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số 43/10/1/1, đường số 42, phường Hiệp Bình Ch, thành phố Thủ Đ, thành phố Hồ Chí Minh (văn bản ủy quyền ngày 08/10/2021), có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H: Ông Nguyễn Tri Th là Luật sư của Công ty Luật TNHH Nam H và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

Ngoài ra trong vụ án có bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác không có kháng cáo và liên quan đến kháng cáo nên tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng thời gian từ năm 2018 - 2019, Nguyễn Thanh H đề xướng, bàn bạc, thống nhất với Hoàng Anh V Lê Văn C, Nguyễn Anh K và Châu Lê Minh Z (tên gọi khác Châu Quốc T) góp vốn thành lập Công ty kinh doanh bất động sản dưới hình thức lập dự án, phân lô, chuyển nhượng quyền sử dụng đất nền. Lợi dụng vào sự thiếu hiểu biết của khách hàng, H, V, C, K và Z đã đưa ra thông tin gian dối về dự án, về pháp lý của các thửa đất … ký hợp đồng thoả thuận đầu tư, hợp đồng thoả thuận chuyển nhượng quyền sử dụng các thửa đất (dự án) không có pháp lý nhằm chiếm đoạt tiền của nhiều bị hại.

Theo thỏa thuận, H góp 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng), K, V, Công và Z mỗi người góp 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng). Số tiền góp có được, H, V, C, K và Z sử dụng để đăng ký thành lập doanh nghiệp, thuê trụ sở kinh doanh, tuyển dụng nhân viên kinh doanh và đặt cọc, nhận uỷ quyền, nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp, tự đặt tên dự án, sau đó thực hiện việc phân lô, bán nền dưới hình thức dự án.

Trong quá trình hoạt động, H cùng đồng phạm đã thành lập 03 công ty bất động sản:

- Công ty Cổ phần thương mại dịch vụ xây dựng đầu tư & phát triển địa ốc Bình Dương City Land (sau đây gọi tắt là Công ty Bình Dương City Land) đăng ký lần đầu ngày 16/5/2018 theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Công ty Cổ phần), mã số doanh nghiệp 3702665748 do Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Bình Dương cấp, địa chỉ công ty: Số N1, Đường Lý Thái T, phường Hòa P, thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D. Ngành nghề kinh doanh chính: Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sử dụng hoặc đi thuê. Vốn điều lệ 20.000.000.000 đồng (hai mươi tỷ đồng). Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Thanh H - Tổng giám đốc. Cổ đông sáng lập gồm: Lê Văn C (20% cổ phần), Châu Quốc T (sau này đổi tên là Châu Lê Minh Z 20% cổ phần), Hoàng Anh V (10% cổ phần), Nguyễn Anh K (25% cổ phần) và Nguyễn Thanh H (25% cổ phần).

- Công ty Cổ phần thương mại dịch vụ xây dựng đầu tư & phát triển địa ốc Thắng L (sau đây gọi tắt là Công ty Thắng l) đăng ký kinh doanh lần đầu ngày 18/12/2018 theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Công ty Cổ phần), mã số doanh nghiệp 3702730323, địa chỉ: Số 1, lô O, đường Đồng Kh, phường Hòa P, thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D. Ngành nghề kinh doanh chính: Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sử dụng hoặc đi thuê. Vốn điều lệ 20.000.000.000 đồng (hai mươi tỷ đồng). Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Thanh H - Tổng giám đốc. Cổ đông sáng lập gồm: Lê Văn C (35% cổ phần), Nguyễn Thanh H (40% cổ phần) và Tạ Ngọc H (sinh năm 1994, CMND số: 241602520, HKTT: tổ dân phố Quyết Th, thị trấn Ea P, huyện Cư Mg, tỉnh Đắk L, 25% cổ phần).

- Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển địa ốc Thành C (sau đây gọi tắt là Công ty Thành C), đăng ký lần đầu ngày 23/5/2019 theo chứng nhận đăng ký doanh nghiệp với mã số doanh nghiệp 3702773662, địa chỉ: Số 1, lô Ô, đường Đồng Khởi, phường Hòa P, thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D. Ngành nghề kinh doanh chính: Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sử dụng hoặc đi thuê. Vốn điều lệ 20.000.000.000 đồng (hai mươi tỷ đồng). Người đại diện theo pháp luật: Hoàng Anh V - Tổng giám đốc. Cổ đông sáng lập gồm: Lê Văn C (35% cổ phần), Tạ Ngọc H (30% cổ phần) và Hoàng Anh V (35% cổ phần).

H và đồng phạm tự phân lô 06 khu đất đất nông nghiệp, đặt tên thành 06 dự án khác nhau:

(1) Khu dân cư Happy Home (sau đó đổi tên là: Khu nhà ở Thành C 1)

(2) Khu dân cư Happy Home 2

(3) Khu dân cư Green City 1 (sau đó đổi tên: Khu nhà ở Phúc L 1)

(4) Khu dân cư Green City 2 (sau đó đổi tên: Khu nhà ở Phúc L 2)

(5) Khu dân cư Green City 3 (sau đó đổi tên: Khu nhà ở Phúc L 2)

(6) Khu dân cư Phúc Long City (sau đó đổi tên: Khu nhà ở Thành C 2)

Ngoài ra H làm giả hợp đồng uỷ quyền, đứng tên khống dự án Khu dân cư Phú Th của Sở Xây dựng tỉnh Bình Ph (giai đoạn 1).

H và đồng phạm phân công vai trò thực hiện, thuê mướn hàng trăm nhân viên kinh doanh, trả lương, hoa hồng …, lập ra nhiều phòng kinh doanh khác nhau và tổ chức huấn luyện nhân viên kinh doanh để tìm kiếm khách hàng; tự vẽ sơ đồ phân lô, làm ra các pano, tờ rơi … quảng cáo, giao bán trên mạng internet, thông tin gian dối cho các nhân viên kinh doanh về dự án như: Đã được cấp phép, các lô đất có đầy đủ pháp lý, đủ điều kiện chuyển nhượng …tổ chức các buổi bán hàng, đưa các nhân viên kinh doanh, khách hàng đến các thửa đất. Tại các thửa đất, H và đồng phạm thuê mướn máy móc, san lấp bề mặt … từ đó các nhân viên kinh doanh tư vấn khách hàng như các thông tin của H và đồng phạm đưa ra, khách hàng tưởng thật, tin tưởng đồng ý ký hợp đồng. H và đồng phạm đại diện các công ty ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nhiều bị hại chiếm đoạt tiền dưới hình thức hợp đồng góp vốn đầu tư, hợp đồng mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Trên các hợp đồng đều có thể hiện căn cứ các dự án đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép, cam kết chuyển nhượng là đất thổ cư, thời hạn cấp sổ và các cam kết khác bảo đảm quyền lợi cho khách hàng … . H cùng đồng phạm đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của các bị hại cụ thể như sau:

1. Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Nguyễn Anh K, Lê Văn C và Châu Lê Minh Z thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại dự án Khu dân cư Happy Home.

Tháng 05/2018, Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C, Nguyễn Anh K và Châu Lê Minh Z thỏa thuận thống nhất mua Thửa đất số 14, 15 thuộc tờ bản đồ số 04 tại xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D, diện tích 8.664,1 m2, mục đích sử dụng: Đất trồng cây hàng năm, được Ủy ban nhân dân huyện Phú G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL900217 (số vào sổ cấp GCN: H04671) ngày 05/11/2008 cho ông Nguyễn Văn Đ với giá 3.600.000.000 đồng (ba tỷ sáu trăm triệu đồng) để phân lô bán nền đất. Ngày 12/5/2018, Nguyễn Thanh H đặt cọc mua thửa đất trên của ông Nguyễn Văn Đ với số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), ngày 30/5/2018, ông Nguyễn Văn Đ ký hợp đồng ủy quyền toàn quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất trên cho Nguyễn Thanh H tại Văn phòng Công chứng Phú G, địa chỉ: số 513, đường ĐT 741, Tổ 3, Khu phố 9, thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình D. Ngày 30/5/2018 và ngày 09/6/2018, Nguyễn Thanh H đã trả hết tổng số tiền 3.500.000.000 đồng (ba tỷ năm trăm triệu đồng) còn lại cho ông Đ.

Ngày 17/6/2019, Nguyễn Thanh H ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên cho Hoàng Anh V. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Phú G đăng ký biến động điều chỉnh GCNQSDĐ sang cho Hoàng Anh V vào ngày 03/7/2019 (mục đích ký hợp đồng là để sang tên đất cho V). Ngày 12/08/2019, Hoàng Anh V ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất trên cho ông Vũ Minh T tại Văn phòng công chứng Phú Th, địa chỉ: khu phố Đông T, phường Tân Đông H. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Phú G đăng ký biến động điều chỉnh GCNQSDĐ sang cho ông Vũ Minh T vào ngày 17/9/2019 (đây là hợp đồng chuyển nhượng giả cách để V và đồng bọn vay tiền của ông T, nội dung này liên quan đến vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại dự án Khu dân cư Phú Th, nêu tại phần sau). Ngày 13/12/2019, Hoàng Anh V đại diện Công ty Thành Công nộp đơn đến Sở Xây dựng tỉnh Bình D để đăng ký đầu tư dự án “Khu nhà ở Thành C 1”, xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D. Ngày 03/01/2020, Sở Xây dựng tỉnh Bình D ban hành Công văn số 03/SXD-QLN gửi đến Công ty Thành C, nội dung trả lời: “Việc đăng ký đầu tư dự án theo phương án đề xuất của Công ty Thành C là chưa phù hợp” (như vậy, dự án “Khu dân cư Happy Home”, sau đó đổi tên là “Khu nhà ở Thành C 1” là dự án không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép đầu tư).

Ngay sau khi đặt cọc mua thửa đất trên của ông Đ, các bị cáo H, V, K, C và Z thống nhất đặt tên dự án là “Khu dân cư Happy Home”, vẽ sơ đồ dự án với tổng số 35 lô đất, diện tích mỗi lô từ 125 m2 đến 250 m2, lập bảng giá từng lô đất, lập mẫu hợp đồng ký kết với khách hàng và triển khai thông tin dự án cho toàn bộ nhân viên kinh doanh Công ty để chào bán nhằm chiếm đoạt tiền của các khách hàng và thỏa thuận, phân công vai trò, thống nhất thực hiện như sau:

Nguyễn Thanh H trực tiếp giao dịch mua đất nông nghiệp, lập bảng giá từng lô đất trong dự án, triển khai thông tin dự án cho nhân viên Công ty và khách hàng có nhu cầu mua đất tại các lần mở bán đất nền tại dự án. Khi triển khai, Nguyễn Thanh H đưa ra tên dự án, vị trí dự án, tiện ích và sản phẩm nền đất dự án đang chào bán như: Vị trí lô đất, giá cả, chiết khấu khi mua và đưa thông tin dự án đầy đủ pháp lý, cam kết thời gian bàn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hạ tầng cho khách hàng từ 6 tháng đến 12 tháng kể từ ngày khách hàng thanh toán 95%; H đề ra việc sử dụng mẫu hợp đồng thỏa thuận chuyển nhượng để ký kết với bị hại, nội dung hợp đồng thể hiện: Thông tin dự án trên đã được chấp thuận của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình D tại công văn 4483/UBND-KTN ngày 09/10/2017; căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa đất thuộc dự án đứng tên Công ty Bình Dương City Land; cùng các hồ sơ, tài liệu pháp lý khác có liên quan Dự án; nội dung các hợp đồng thể hiện thông tin số lô, diện tích nền đất; giá trị chuyển nhượng, tiến độ thanh toán và nghĩa vụ bên chủ đầu tư: Cam kết diện tích nền đất bán là nền đất thổ cư; đảm bảo nền đất thuộc quyền sở hữu hợp pháp và thỏa mãn các quy định của pháp luật cho việc chuyển nhượng. Đồng thời Nguyễn Thanh H còn đứng tên đại điện Công ty Bình Dương City Land ký hợp đồng chuyển nhượng nền đất cho các khách hàng.

Nguyễn Anh K được phân công là Giám đốc kinh doanh, trực tiếp vẽ sơ đồ dự án thể hiện thông tin với tổng số 35 lô đất, diện tích mỗi lô từ: 125 m2 đến 250 m2, đề xuất đặt tên dự án “Khu dân cư Happy Home”, đồng thời quản lý phòng kinh doanh, triển khai thông tin dự án cho các nhân viên kinh doanh và đại diện Công ty Bình Dương City Land ký giấy tờ giao dịch với khách hàng như: Hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng đất cho khách hàng; phiếu thu tiền và đưa ra các kế hoạch chiến lược tìm kiếm khách hàng mua đất cho các phòng kinh doanh tại dự án.

Hoàng Anh V được phân công là Trưởng phòng nhân sự Công ty Bình Dương City Land có nhiệm vụ tuyển dụng nhân viên, quản lý hồ sơ nhân viên, quản lý thời gian làm việc của các nhân viên Công ty khi chào bán nền đất tại dự án Happy Home.

Lê Văn C là Trưởng phòng kinh doanh có nhiệm vụ quản lý các nhân viên phòng kinh doanh; triển khai thông tin liên quan dự án cho toàn bộ nhân viên, trực tiếp tư vấn khách hàng và hỗ trợ nhân viên kinh doanh tư vấn khách hàng mua đất; đưa ra các kế hoạch, phân công nhân viên kinh doanh tìm kiếm khách hàng để mua đất tại dự án.

Châu Lê Minh Z ban đầu chỉ là cổ đông góp vốn, sau đó được phân là Trưởng phòng kinh doanh (một trong các phòng kinh doanh) có nhiệm vụ quản lý các nhân viên phòng kinh doanh do mình quản lý; triển khai thông tin liên quan dự án cho toàn bộ nhân viên, trực tiếp tư vấn khách hàng và hỗ trợ nhân viên kinh doanh tư vấn khách hàng mua đất; đưa ra các kế hoạch, phân công nhân viên kinh doanh tìm kiếm khách hàng để mua đất tại dự án.

Từ tháng 5/2018 đến tháng 6/2018, các nhân viên đã đưa ra các thông tin gian dối do Hùng, Vui, Công, Khoa và Vẹn truyền đạt như trên cho 23 người bị hại để Hùng, Khoa, Vui ký 23 hợp đồng chuyển nhượng 23 lô đất chiếm đoạt 6.099.500.000 đồng (sáu tỷ không trăm chín mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng).

Danh sách người bị hại, số tiền chiếm đoạt và số tiền đã trả lại như sau:

BỊ

HỌ TÊN BỊ SINH SỐ TIỀN ĐÃ

SỐ TIỀN STT

CÁOKÝ

HẠI

NĂM

NỘP

ĐÃ TRẢ

HĐ

Nguyễn 1

Đào Ngọc Q

1986

279,000,000

40,000,000

Anh K

Nguyễn Thị

Nguyễn 2

1990

279,000,000

0

Thủy Tr

Anh K

Nguyễn 3

Bùi Thị M

1988

279,000,000

65,800,000

Thanh H

Nguyễn 4

Bùi Quang V 1983

279,000,000

0

Anh K

Nguyễn 5

Phạm Thị Tr

1988

279,000,000

0

Thanh H

Phạm Nguyễn

Nguyễn 6

1985

279,000,000

0

Duy Ph

Anh K

Nguyễn 7

Hồ Phúc Đ

1994

144,500,000

0

Thanh H

Nguyễn 8

Trương Phú T 1989

459,500,000

0

Thanh H

Nguyễn 9

Nguyễn Thị H 1993

279,000,000

19,000,000

Thanh H

Nguyễn 10

Lê Tường V

1981

279,000,000

0

Anh K

Nguyễn 11

Bồ Thanh H

1985

279,000,000

38,000,000

Anh K

Nguyễn 12 Nguyễn Đức B 1984

279,000,000

Anh K

Nguyễn 13 Nguyễn Đức T 1990

279,000,000

0

Anh K

Nguyễn 14 Nguyễn Văn Q 1986

319,000,000

319,000,000

Anh K

Nguyễn 15

Lê Văn H

1975

279,000,000

279,000,000

Anh K

Nguyễn 16

Lê Văn N

1985

279,000,000

290,000,000

Anh K

Nguyễn 17

Hồ Văn L

1985

138,500,000

144,500,000

Anh K

Nguyễn 18

Vi Văn K

1992

279,000,000

298,000,000

Anh K

Hoàng 19

Trần Hoài N

1987

279,000,000

279,000,000

Anh V

Nguyễn 20 Đặng Công Th 1983

279,000,000

307,000,000

Anh K

Nguyễn 21

Cao Thị H

1986

279,000,000

289,000,000

Thanh H

Nguyễn Thị

Nguyễn 22

1989

150,000,000

150,000,000

Thanh K

Thanh H

Trần Thị

Nguyễn 23

1989

145,000,000

145,000,000

Phương T

Thanh H

6,099,500,000 2,663,300,000

TỔNG

Sau khi bị phát hiện, bị tố giác, Nguyễn Thanh H và đồng phạm trả lại cho các bị hại 2.663.300.000 đồng (hai tỷ sáu trăm sáu mươi ba triệu ba trăm nghìn đồng), số tiền chiếm đoạt còn lại chưa trả là 3.510.200.000 đồng (ba tỷ năm trăm mười triệu hai trăm nghìn đồng). Trong 23 hợp đồng trên, Nguyễn Anh K là người trực tiếp ký 14 (mười bốn) hợp đồng chuyển nhượng 14 lô đất cho 14 bị hại, chiếm đoạt tổng là 3.805.500.000 đồng (ba tỷ tám trăm lẻ năm triệu năm trăm nghìn đồng), đã trả lại cho bị hại 1.715.500.000 đồng (một tỷ bảy trăm mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng), số tiền chiếm đoạt còn lại chưa trả là 2.154.000.000 đồng (hai tỷ một trăm năm mươi tư triệu đồng); Nguyễn Thanh H là người trực tiếp ký 08 (tám) hợp đồng chuyển nhượng 08 lô đất cho 08 bị hại, chiếm đoạt tổng là 2.015.000.000 đồng (hai tỷ không trăm mười lăm triệu đồng), đã trả lại cho bị hại 668.800.000 đồng (sáu trăm sáu mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng), tiền chiếm đoạt còn lại chưa trả là 1.356.200.000 đồng (một tỷ ba trăm năm mươi sáu triệu hai trăm nghìn đồng); Hoàng Anh V là người trực tiếp ký 01 (một) hợp đồng chuyển nhượng 01 lô đất cho 01 bị hại, chiếm đoạt tổng là 279.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi chín triệu đồng), đã trả lại cho bị hại 279.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi chín triệu đồng).

2. Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Nguyễn Anh K, Lê Văn C và Châu Lê Minh Z thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại dự án Khu dân cư Happy Home 2.

Đến cuối tháng 5/2018, sau khi thu tiền của nhiều khách hàng tại Dự án Happy Home, Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C, Nguyễn Anh K và Châu Lê Minh Z thống nhất mua đất nông nghiệp của bà Đinh Thị Thu H tại thửa đất số 126, tờ bản đồ số 30, diện tích: 9.354,2 m2 thuộc xã Thanh A, huyện Dầu T, tỉnh Bình D được Ủy ban nhân dân huyện Dầu T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB735752 (số vào sổ cấp GCN: CH02388) ngày 10/8/2016, với giá trị chuyển nhượng là 19.300.000.000 đồng (mười chín tỷ ba trăm triệu đồng).

Ngày 26/5/2018, Trần Quốc T đứng tên thay đặt cọc để nhận tiền môi giới từ chủ đất cho nhóm H mua thửa đất trên là 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng). Đến ngày 09/8/2018, H chuyển khoản cho bà H trả hết 16.300.000.000 đồng (mười sáu tỷ ba trăm triệu đồng). Đến ngày 14/8/2018, bà Đinh Thị Thu H mới ký hợp đồng ủy quyền đối với thửa đất trên cho Nguyễn Thanh H tại Văn phòng Công chứng Phạm Văn C - thị xã Thuận A (nay là thành phố Thuận A), tỉnh Bình D. Ngày 13/8/2019, theo yêu cầu của Hùng bà Đinh Thị Thu Hương ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên cho ông Vũ Minh T (sinh năm: 1984 HKTT: 95/2/16 Bình L, Phường 13, quận Bình Th, Thành phố Hồ Chí Minh) tại Văn phòng Công chứng Phú Th, địa chỉ: khu phố Đông T, phường Tân Đông H, thành phố Dĩ A, tỉnh Bình D. (Trên thực tế là hợp đồng chuyển nhượng giả cách để H vay tiền của T, nội dung này liên quan đến vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại dự án Khu dân cư Phú Th, nêu tại phần sau). Ngày 02/10/2019, bà Đinh Thị Thu H tiếp tục ký hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Vũ Minh T, nội dung sửa đổi, bổ sung: diện tích đất thay đổi sau khi đo đạc thực tế giảm còn 9.194 m2 và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình D cấp giấy chứng nhận ngày 27/11/2019 cho ông Vũ Minh T.

(Như vậy, dự án “Khu dân cư Happy Home 2” là dự án chưa thực hiện thủ tục cấp phép và không có cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép đầu tư theo quy định).

Ngay sau khi đặt cọc, H, V, K, C và thống nhất đặt tên dự án là “Khu dân cư Happy Home 2” tại thửa đất của bà H, sơ đồ dự án tổng số 54 lô đất, diện tích mỗi lô từ: 125 m2 đến 175 m2, lập bảng giá từng lô đất, lập mẫu hợp đồng ký kết với khách hàng và triển khai thông tin dự án cho toàn bộ nhân viên kinh doanh Công ty để chào bán nhằm chiếm đoạt tiền của các khách hàng và thỏa thuận phân công vai trò, thống nhất thực hiện như sau:

Nguyễn Thanh H trực tiếp vẽ sơ đồ phân lô dự án, lập bảng giá từng lô với giá từng nền đất từ 625.000.000 đồng (sáu trăm hai mươi lăm triệu đồng) đến 1.050.000.000 đồng (một tỷ không trăm năm mươi triệu đồng), đề xuất đặt tên dự án là “Khu dân cư Happy Home 2” và có vai trò trong các công việc khác tương tự như đối với dự án “Khu dân cư Happy Home” nêu trên. Đối với vai trò Nguyễn Anh K Hoàng Anh V, Lê Văn C và Châu Lê Minh Z cũng giống như trong dự án “Khu dân cư Happy Home”. Đến giữa tháng 8/2018, Châu Lê Minh Z thoả thuận rút vốn tại Công ty Bình Dương City Land ra làm riêng và nhận trước 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) là tiền góp vốn và lợi nhuận từ việc góp vốn tại 02 dự án “Khu dân cư Happy Home” và “Khu dân cư Happy Home 2”.

Mặc dù thửa đất mới đặt cọc, chưa thực hiện chuyển quyền sử dụng đất và chưa thực hiện bất kỳ thủ tục nào về dự án khu dân cư nhưng từ cuối tháng 5 năm 2018 đến ngày 30 tháng 6 năm 2018, nhân viên đã đưa ra các thông tin gian dối do H, K, V, C và Z truyền đạt như trên cho 11 người bị hại đồng ý làm hợp đồng để Hùng đại diện Công ty Bình Dương City Land ký 12 (mười hai) hợp đồng chuyển nhượng 12 lô đất cho 09 bị hại, chiếm đoạt tổng là 11.200.250.000 đồng (mười một tỷ hai trăm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng); Nguyễn Anh K ký 03 (ba) hợp đồng chuyển nhượng 03 lô đất cho 02 bị hại, chiếm đoạt 2.834.250.000 đồng (hai tỷ tám trăm ba mươi tư triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Danh sách người bị hại, số tiền chiếm đoạt và số tiền đã trả lại như sau:

SINH SỐ TIỀN ĐÃ SỐ TIỀN ĐÃ

Họ tên bị hại

BỊ CÁOKÝ HĐ STT

NĂM

NỘP

TRẢ

Nguyễn Thị 1

1964 952,000,000

0

Nguyễn Thanh H

Lan H 2 Nguyễn Thị H 1959 1,905,000,000

Nguyễn Thanh H 3 Vòng Cún L

1989 952,500,000

0

Nguyễn Thanh H

Phạm Nguyễn 4

1985 950,000,000

100,000,000 Nguyễn Thanh H

Duy Ph 5 Bùi Anh Đ

1973 952,500,000

119,000,000

Nguyễn Anh K

Nguyễn Thành 6

1975 1,772,500,000

0

Nguyễn Thanh H

C

Nguyễn Thùy 7

1989 1,882,250,000

0

Nguyễn Anh K

D

Nguyễn Thị 8

1974 1,905,000,000

0

Nguyễn Thanh H

Ch

Phạm Thị 9

1983 952,500,000

50,000,000 Nguyễn Thanh H

Minh T 10 Đỗ Thế P

1986 952,500,000

0

Nguyễn Thanh H

Trần Thị Ánh 11

1977 858,250,000

858,250,000 Nguyễn Thanh H

Ng

TỔNG

14,035,000,000 1,127,250,000

Sau khi sự việc bị phát hiện, bị tố giác, Nguyễn Thanh H cùng đồng bọn trả lại cho các bị hại tổng là 1.127.250.000 đồng (một tỷ một trăm hai mươi bảy triệu bảy trăm năm mươi đồng), số tiền còn chiếm đoạt chưa trả là 12.907.750.000 đồng (mười hai tỷ chín trăm không bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Trong thời gian Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C, Nguyễn Anh K, Châu Lê Minh Z chào bán nền đất cho các khách hàng tại dự án trên thì vào ngày 22/6/2018, UBND huyện Dầu T phát hiện và tiến hành lập biên bản về việc phân lô bán nền trái phép đối với Nguyễn Thanh H, Nguyễn Anh K, nội dung biên bản thể hiện: việc phân lô, bán nền tại khu đất thuộc tờ bản đồ số 30, thửa đất số 26, tọa lạc ấp Bến Tr, xã Thanh A, huyện Dầu T, tỉnh Bình D do Công ty Bình Dương City Land theo sơ đồ phân lô dự án “Khu dân cư Happy Home 2” là không phù hợp, không đúng quy định của pháp luật: sơ đồ phân lô theo sơ đồ phân lô dự án “Khu dân cư Happy Home 2” chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, yêu cầu Công ty không được phân lô, rao bán vì khu đất không phù hợp quy hoạch Hùng, Khoa đã ký biên bản vi phạm. Đến ngày 30/6/2018, Nguyễn Thanh H vẫn tiếp tục ký kết hợp đồng chuyển nhượng cho khách hàng tên Phạm Nguyễn Duy Ph.

3. Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Nguyễn Anh K, Lê Văn C thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại dự án Khu dân cư Green City 1.

Sau khi thu tiền của các khách hàng tại các dự án trước, H, V, K và C thống nhất tiến hành đặt cọc mua đất nông nghiệp tại thửa đất số 411, tờ bản đồ số 36, diện tích: 12.152,9 m2, mục đích sử dụng đất: đất trồng cây lâu năm thuộc xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D được cấp theo giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL565889 (số vào sổ cấp GCN:CH02514) do UBND huyện Bến C cấp ngày 01/10/2012 cho ông Nguyễn Đình Th. Ngày 27/6/2018, Nguyễn Thanh H và ông Th ký thoả thuận mua thửa đất với giá 8.500.000.000 đồng (tám tỷ năm trăm triệu đồng) và đặt cọc 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng) tại nhà ông Th. Đến ngày 23/7/2018, ông Nguyễn Đình Th mới ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên cho Nguyễn Thanh H tại Văn phòng công chứng Bàu B, tỉnh Bình D và H trả hết số tiền còn lại. Đến ngày 05/9/2018, Sở Tài nguyên và Môi trưởng tỉnh Bình D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Nguyễn Thanh H.

Ngày 05/10/2018, Sở Xây Dựng tỉnh Bình D nhận hồ sơ xin đăng ký làm chủ đầu tư dự án “Khu nhà ở Green City 1” tại xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D của Công ty Bình Dương City Land. Ngày 22/10/2018, Sở Xây Dựng tỉnh Bình D ban hành văn bản số 3586/SXD-QLN về việc trả hồ sơ đăng ký đầu tư dự án “Khu nhà ở Green City 1”. Do hồ sơ chưa đúng thành phần theo quy định. Ngày 27/11/2018, Sở Xây Dựng tỉnh Bình D tiếp tục nhận được hồ sơ đăng ký làm chủ đầu tư dự án “Khu nhà ở Phố Xanh 1” (trước đó là “Khu nhà ở Green City 1”) do Công ty Bình Dương City Land đăng ký làm chủ đầu tư. Ngày 12/12/2018, Sở Xây Dựng ban hành Văn bản số 4367/SXD-QLN về việc trả hồ sơ đăng ký đầu tư dự án “Khu nhà ở Phố xanh 1” do Công ty Bình Dương City Land đăng ký làm chủ đầu tư. Do vị trí đầu tư dự án tại thửa đất nêu trên chưa phù hợp với quy hoạch. Ngày 13/5/2019, Sở Xây Dựng tỉnh Bình Dương nhận đơn đăng ký số 09/A ngày 12/5/2019 về việc làm chủ đầu tư dự án “Khu nhà ở Phúc L 1” (trước đó là “Khu nhà ở Phố X 1”) do Công ty Thắng L đăng ký làm chủ đầu tư dự án. Ngày 17/5/2019, Sở Xây Dựng tỉnh Bình D ban hành văn bản số 1792/SXD-QLN về việc thông báo đăng ký đầu tư dự án “Khu nhà ở Phúc L 1”, nội dung xác định: khu đất Công ty đăng ký đầu tư dự án hiện đang thuộc quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thanh H chưa thuộc quyền sử dụng của Công ty. Sở Xây Dựng không có cơ sở để xem xét việc đăng ký làm chủ đầu tư dự án theo đề nghị của Công ty (như vậy, dự án “Khu dân cư Green City 1”, sau đó đổi tên thành “Khu nhà ở Phố X 1” và cuối cùng đổi tên thành “Khu nhà ở Phúc L 1” là dự án không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép đầu tư theo quy định).

Ngay sau khi đặt cọc mua thửa đất trên, H, V, K, C thống nhất đặt tên dự án “Khu dân cư Green City” trên thửa đất của ông Thoại, lập sơ đồ dự án tổng số 95 lô đất, diện tích mỗi lô từ 95 m2 đến 140 m2, lập bảng giá từng lô đất, lập mẫu hợp đồng ký kết với khách hàng và triển khai thông tin dự án cho toàn bộ nhân viên kinh doanh Công ty để tiến hành chào bán nhằm chiếm đoạt tiền của các khách hàng. Nguyễn Thanh H và đồng bọn thỏa thuận phân công vai trò, thống nhất nội dung thực hiện.

Nguyễn Thanh Hùng là tổng giám đốc Công ty Bình Dương City Land có vai trò tương tự như những dự án trước và trực tiếp ký hợp đồng với một số khách hàng, Nguyễn Anh K là giám đốc kinh doanh có vai trò tương tự như các dự án trước, trực tiếp phác thảo, vẽ sơ đồ dự án này; Lê Văn C là trưởng phòng kinh doanh thực hiện vai trò tương tự như hai dự án trước để thực hiện việc bán dự án “Khu dân cư Green City 1”. Đối với Hoàng Anh V, tháng 7 năm 2018, Vui được phân công làm Phó Giám đốc phụ trách pháp lý đại diện Công ty Bình Dương City Land ký giấy tờ giao dịch với khách hàng mua đất như: hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng đất, phiếu thu tiền.

Mặc dù thửa đất mới đặt cọc, chưa thực hiện xong việc chuyển quyền sử dụng đất và thực hiện bất kỳ thủ tục nào về dự án khu dân cư nhưng từ tháng 7 đến ngày 22 tháng 9 năm 2018, nhân viên đã đưa ra các thông tin gian dối do H, K, V và Công truyền đạt như trên cho 63 bị hại đồng ý làm hợp đồng để Hùng, Vui đại diện Công ty Bình Dương City Land ký 69 hợp đồng về việc chuyển nhượng 69 lô đất nền dự án cho 63 bị hại (có danh sách thống kê cụ thể phụ lục III kèm theo), chiếm đoạt tổng số tiền: 21.734.050.000 đồng (hai mươi mốt tỷ bảy trăm ba mươi tư triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

Danh sách người bị hại, số tiền chiếm đoạt và số tiền đã trả lại như sau:

họ tên bị

sinh

số tiền đã nộp số tiền đã trả bị cáoký hđ STT

hại

năm

Hoàng Anh

1

Phan Văn D

300,000,000

40,000,000

1990

V

Hoàng Anh

2

Lê Kim Ph

350,000,000

10,000,000

1991

V

Hoàng Anh

3

Trần Văn Nh

310,000,000

141,500,000

1991

V

Bùi Thị

Hoàng Anh

4

1989 962,700,000

30,000,000

Minh H

V

Trần Thị Mỹ

Hoàng Anh

5

1985 310,000,000

10,000,000

Ng

V

Hoàng Anh

Trần Văn Q

374,000,000

1977

V

Nguyễn Thị

Hoàng Anh

7

315,000,000

0

H

1985

V

Nguyễn

Hoàng Anh

8

329,000,000

0

Đình L

1976

V

Hoàng Anh

9

Trần Minh H

235,000,000

23,500,000

1993

V

Hoàng Anh

10

Lê Thị Đ

300,000,000

40,000,000

1979

V

Quách Công

Hoàng Anh

11

1987 284,500,000

56,900,000

Ngh

V

Nguyễn Thị

Hoàng Anh

12

1983 440,000,000

0

Minh Th

V

Hoàng Anh

13

Mai Đức H 1986 315,000,000

31,500,000

V

Hoàng Anh

14

Đỗ Thị Th 1983 315,000,000

31,500,000

V

Hoàng Anh

15 Phan Thị Nh 1988 305,000,000

30,500,000

V

Phùng Văn

Hoàng Anh

16

1973 385,000,000

0

Th

V

Nguyễn Đức

Hoàng Anh

17

293,000,000

10,000,000

Kh

1989

V

Hoàng Anh

18 Hoàng Thị H

315,000,000

0

1994

V

Nguyễn

Hoàng Anh

19

310,000,000

38,700,000

Thanh T

1986

V

Trương Sỹ

Nguyễn

20

330,000,000

33,000,000

Th

1980

Thanh

1979 315,000,000

31,500,000

Hoàng A V

Mai Th Th

( Chồng tên

Nguyễn

Xuân T)

Hoàng Anh

22

Võ Thị H

324,800,000

0

1988

V

Hoàng Anh

23 Ngô Hùng V

315,000,000

0

1960

V

Vũ Thành

Hoàng Anh

24

1979 340,000,000

44,000,000

Ph

V

Hoàng Anh

25

Lê Thị Th

325,000,000

0

1990

V

Nguyễn Thị

Hoàng Anh

26

1980 945,000,000

750,000,000

Minh Ng

V

Hoàng Anh

27

Đào Thị Th

277,000,000

100,000,000

1983

V

Phan Minh

Hoàng Anh

28

330,000,000

33,000,000

K

1976

V

Hoàng Anh

29 Trần Đăng H

337,200,000

67,440,000

1991

V

Lê Thị H

Hoàng Anh

30

667,500,000

0

(Lê Xuân H) 1989

V

Hoàng Anh

31

Ngô Văn H

385,000,000

0

1981

V

Thượng Thị

Hoàng Anh

32

360,000,000

36,000,000

Hồng S

1979

V

Hoàng Anh

33

Lê Trọng T

350,000,000

35,000,000

1989

V

Hoàng Anh

34

Lê Trọng L

321,700,000

32,170,000

1984

V

Hoàng Anh

35 Lê Trọng Ng

315,000,000

31,500,000

1985

V

Dương Ngọc

Hoàng Anh

315,500,000

31,500,000

B

1996

V

Nguyễn Thị

Hoàng Anh

37

374,000,000

37,400,000

Th

1988

V

Hoàng Anh

38 Trần Thị Kh

315,000,000

60,000,000

1987

V

Lê Thị Thùy

Hoàng Anh

39

360,000,000

0

Tr

1976

V

Hoàng Anh

40 Bùi Xuân H 1986 358,000,000 250,000,000

V

Nguyễn

41

Lê Thị Út S

374,000,000

0

1990

Thanh H

Nguyễn Thị

Hoàng Anh

42

346,500,000

10,000,000

Thanh V

1988

V

Phan Thị

B

Hoàng Anh

43

326,000,000

0

(Chồng tên

V

Lê Văn B) 1992

Hoàng Anh

44

Mai Văn T

212,000,000

0

1986

V

Hoàng Anh

45

Vũ Minh T

334,400,000

150,000,000

1993

V

Lê Nguyễn

Hoàng Anh

46

315,000,000

25,500,000

Hoài S

1979

V

Hoàng Anh

47 Lê Thanh D

315,000,000

73,000,000

1989

V

Hoàng Anh

48

Lâm Tú Tr

380,000,000

0

1984

V

Hoàng Anh

49

Nguyễn T

325,000,000

0

1981

V

50

1988 315,000,000

73,000,000

Nguyễn Văn

Hoàng Anh

H

V

Hoàng Anh

51

Lê Văn G

330,000,000

22,800,000

1995

V

Hoàng Anh

52

Lê Tấn Q 1990 330,000,000

33,000,000

V

Hoàng Anh

53

Võ Công M

315,000,000

31,500,000

1988

V

Hoàng Anh

54 Phan Anh N

330,000,000

10,000,000

1961

V

Hoàng Anh

55

Lê Văn M

365,000,000

73,000,000

1984

V

Hoàng Anh

56

Lê Văn D

50,000,000

50,000,000

1991

V

Huỳnh Thị

Hoàng Anh

57

225,000,000

225,000,000

Nh

1980

V

Hoàng Anh

58

Tạ Minh Ph

503,750,000

519,350,000

1982

V

Nguyễn Thế

Hoàng Anh

59

200,000,000

210,000,000

N

1982

V

Hoàng Anh

60 Vũ Ngọc Th

446,000,000

446,000,000

1980

V

Trần Ngọc

Hoàng Anh

61

330,000,000

330,000,000

Ph

1977

V

Nguyễn Thị

Hoàng Anh

62

247,500,000

247,500,000

Trúc Ph

1988

V

Hà Phương

Hoàng Anh

63

110,000,000

110,000,000

Th

1990

V

Tổng

21,734,050,000 4,706,260,000

Sau khi sự việc bị phát hiện, bị tố giác, Nguyễn Thanh H và đồng bọn đã trả lại cho các bị hại với tổng số tiền: 4.456.260.000 đồng (bốn tỷ bốn trăm năm sáu triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng), tiền chiếm đoạt chưa trả là: 17.303.390.000 đồng (mười bảy tỷ ba trăm lẻ ba triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng), trong đó: Hoàng Anh V là người trực tiếp ký 67 (sáu bảy) hợp đồng chuyển nhượng 67 lô đất cho 61 bị hại, chiếm đoạt tổng số tiền: 21.030.050.000 đồng (hai mươi mốt tỷ không trăm ba mươi triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Đã trả lại cho các bị hại tổng là: 4.673.260.000 đồng (bốn tỷ sáu trăm bảy mươi ba triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng), còn chiếm đoạt chưa trả là: 17.053.390.000 đồng (mười bảy tỷ không trăm năm mươi ba triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng). Nguyễn Thanh H là người trực tiếp ký 02 (hai) hợp đồng chuyển nhượng 02 lô đất cho 02 bị hại, chiếm đoạt tổng: 704.000.000 đồng (bảy trăm lẻ bốn triệu đồng). Đã trả lại cho bị hại: 33.000.000 đồng (ba mươi ba triệu đồng), còn chiếm đoạt chưa trả là: 671.000.000 đồng (sáu trăm bảy mươi mốt triệu đồng).

Ngày 17/01/2020, Nguyễn Thanh H vay của ông Nguyễn Văn B (sinh năm 1975, nơi cư trú: số 1, đường số 5 TTHC, Khu phố Nhị Đồng 2, phường Dĩ A, thành thành phố Dĩ A, tỉnh Bình D) 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng) dưới hình thức viết giấy vay tiền và ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Bản tại Văn phòng Công chứng Dĩ A, tỉnh Bình D.

Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C thống nhất thành lập thêm Công ty Thắng L (như nêu ở phần trên). Trong thời gian xin đăng ký làm chủ đầu tư dự án như nêu trên, Hoàng Anh V đã thực hiện việc đại diện Công ty Thắng L ký đổi 04 hợp đồng chuyển nhượng cho 04 bị hại tại “Dự án Green City 1” (do Vui đại diện Công ty Bình Dương City Land ký trước đó) sang hợp đồng chuyển nhượng tại dự án “Khu nhà ở Phúc Long 1”.

4. Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Nguyễn Anh K, Lê Văn C thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại dự án Khu dân cư Green City 2”.

Cuối tháng 7 năm 2018, sau khi thu tiền của nhiều khách hàng tại những dự án trước, Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V Nguyễn Anh K và Lê Văn C thống nhất mua đất nông nghiệp tại khu đất có tổng diện tích 28.833,1 m2, mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm, tại xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D của 09 cá nhân: ông Lê Văn Th, Từ Đức Tú A và bà Trần Tống Kim Ph, bà Nguyễn Thị Thanh Tr và ông Lê Tiến L, ông Huỳnh Công H và bà Võ Thị L, ông Trần Danh A và bà Trần Thị T tại Văn phòng Công chứng Mỹ Ph, tỉnh Bình D, 10 thửa đất số 2322; 2323; 2324; 2325; 2326; 2327; 2328; 2329; 2330; 2331, tờ bản đồ số 37 với tổng diện tích 28.833,1 m2, mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm, tại xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D với giá: 14.950.000.000 đồng (mười bốn tỷ chín trăm năm mươi triệu đồng). Ngày 23/7/2018, Nguyễn Thanh H đặt cọc mua các thửa đất trên với ông Lê Văn Th: 1.100.000.000 đồng (một tỷ một trăm triệu đồng). Ngày 23/8/2018, Nguyễn Thanh H mới ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên. Ngày 25/7/2018 và ngày 22/8/2018, Nguyễn Thanh H đã trả hết 13.850.000.000 đồng (mười ba tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng) còn lại cho ông Huỳnh Công Hưng và ông Lê Văn Th. Ngày 19/09/2018, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình D cấp GCNQSD đất cho Nguyễn Thanh H thửa đất số 2650, tờ bản đồ số 37 (được hợp từ các thửa đất nêu trên).

Ngày 05/10/2018, Sở Xây Dựng tỉnh Bình D nhận hồ sơ xin đăng ký làm chủ đầu tư Dự án “Khu dân cư Green City 2” tại xã Lai H, huyện Bàu B của Công ty Bình Dương City Land. Ngày 22/10/2018, Sở Xây Dựng tỉnh Bình D ban hành văn bản số 3586/SXD-QLN về việc trả hồ sơ đăng ký đầu tư dự án “Khu dân cư Green City 2”. Do hồ sơ chưa đúng thành phần theo quy định. Ngày 27/11/2018, Sở Xây Dựng tỉnh Bình D tiếp tục nhận được hồ sơ đăng ký làm chủ đầu tư dự án “Khu nhà ở Phố Xanh 2” (trước đó là “Khu dân cư Green City 2”) do Công ty Bình Dương City Land đăng ký làm chủ đầu tư. Ngày 12/12/2018, Sở Xây Dựng ban hành Văn bản số 4367/SXD-QLN về việc trả hồ sơ đăng ký đầu tư dự án “Khu nhà ở Phố xanh 2” (“Khu dân cư Green City 2”) do Công ty Bình Dương City Land đăng ký làm chủ đầu tư. Do qua khảo sát, vị trí đầu tư tại thửa đất nêu trên là chưa phù hợp với quy hoạch. Ngày 13/5/2019, Nguyễn Thanh H đại diện Công ty Thắng L nộp đơn đăng ký dự án “Khu nhà ở Phúc L 2” (khu đất xin dự án với diện tích: 5,9 ha bao gồm dự án “Khu nhà ở Green City 2” với diện tích: 28.833,1 m2 và dự án “Khu dân cư Green City 3” với diện tích: 30,306 m2) đến Sở Xây Dựng tỉnh Bình D. Ngày 17/5/2019, Sở Xây dựng tỉnh Bình D trả lời không có cơ sở xem xét. Ngày 17/5/2019, Sở Xây Dựng tỉnh Bình D ban hành văn bản số 1793/SXD-QLN về việc thông báo đăng ký đầu tư dự án “Khu nhà ở Phúc L 2”, nội dung văn bản thể hiện: Sở Xây Dựng tỉnh Bình D nhận thấy khu đất Công ty đăng ký đầu tư dự án hiện đang thuộc quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân Nguyễn Thanh H, Ngô Sơn C chưa thuộc quyền sử dụng của Công ty. Do đó, Sở Xây Dựng không có cơ sở để xem xét việc đăng ký làm chủ đầu tư dự án theo đề nghị của Công ty (như vậy, dự án “Khu dân cư Green City 2”, sau đó đổi tên thành “Khu nhà ở Phúc L 2” là dự án không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép đầu tư theo quy định).

Ngay sau khi đặt cọc, H, V, K và C thống nhất đặt tên dự án “Khu dân cư Green City 2”, lập sơ đồ dự án tổng số 212 lô đất, diện tích mỗi lô từ: 82,5 m2 đến 171 m2, lập bảng giá từng lô đất, lập mẫu hợp đồng ký kết với khách hàng và triển khai thông tin dự án cho toàn bộ nhân viên kinh doanh Công ty để chào bán nhằm chiếm đoạt tiền của các khách hàng và thỏa thuận phân công vai trò, thống nhất thực hiện.

Nguyễn Thanh H có vai trò tương tự như trong các dự án trước. Ngoài ra, Nguyễn Thanh Hùng đề xuất đổi tên dự án “Khu dân cư Green City 2” sang dự án “Khu nhà ở Phú L 2” và sử dụng pháp nhân Công ty Thắng L để giao dịch với khách hàng, trực tiếp đại điện Công ty Thắng l ký hợp đồng chuyển nhượng nền đất cho khách hàng. Nguyễn Anh K là Giám đốc kinh doanh, Hoàng Anh V được phân công làm Phó Giám đốc phụ trách pháp lý, Lê Văn C là Trưởng phòng kinh doanh với vai trò tương tự như trong các dự án trước đó. Đến giữa tháng 8/2018, Nguyễn Anh K thoả thuận rút vốn tại Công ty và nhận trước 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng).

Mặc dù thửa đất mới đặt cọc, chưa thực hiện xong việc chuyển quyền sử dụng đất nhưng từ ngày 30 tháng 7 đến tháng 11 năm 2018, nhân viên đã đưa ra các thông tin gian dối do H, K, V và C truyền đạt như trên cho 134 bị hại đồng ý làm hợp đồng để H, V đại diện Công ty Bình Dương City Land ký 160 hợp đồng về việc chuyển nhượng 160 lô đất cho 134 bị hại (có danh sách thống kê cụ thể phụ lục 04 kèm theo), chiếm đoạt là: 52.043.000.000 đồng (năm mươi hai tỷ không trăm bốn mươi ba triệu đồng).

Danh sách người bị hại, số tiền chiếm đoạt và số tiền đã trả lại như sau:

HỌ TÊN BỊ

SINH

SỐ TIỀN

SỐ TIỀN

NGƯỜI STT

HẠI

NĂM

ĐÃ NỘP

TRẢ LẠI

KÝ HĐ

Hoàng

1

Nguyễn Văn Đ

1992

469,000,000

0

Anh V

Hoàng

2 Nguyễn Đình Tr 1983

391,000,000

0

Anh V

Hoàng

3 Nguyễn Minh T 1988

313,000,000

0

Anh V

Hoàng

4

Cao Trường G

1959 1,226,000,000

285,200,000

Anh V

Hoàng

5

Bành Anh Th

1981

351,000,000

0

Anh V

Hoàng

6

Phùn Phúc V

1987

317,000,000

0

Anh V

Hoàng

7

Trần Đan T

1987

310,000,000

0

Anh V

Hoàng

8

Phan Văn D

1985

310,000,000

0

Anh V

Hoàng

9

Hồ A K

1990

310,000,000

10,000,000

Anh V

Hoàng 10 Lê Thị Minh H

1988

310,000,000

0

Anh V

Hoàng 11

Vũ Thị Th

1979

390,000,000

0

Anh V

Hoàng 12

Bùi Văn Q

1988

620,000,000

0

Anh V

Hoàng 13

Lê Văn H

1979

410,000,000

0

Anh V

Hoàng 14 Nguyễn Cẩm D 1989

310,000,000

30,000,000

Anh V

Nguyễn Đình

Hoàng 15

1981

352,000,000

0

Ng

Anh V

Hoàng 16

Lê Sỹ S

1989

310,000,000

0

Anh V

Hoàng 17

Hồ Vũ L

1993

307,000,000

10,000,000

Anh V

Hoàng 18

Trần Anh H

1989

385,000,000

80,000,000

Anh V

Lê Văn H

(Người được uỷ

Hoàng 19

1980

798,000,000

0

quyền: Phạm

Anh V

Thị T)

Nguyễn Thanh

Hoàng 20

1987

303,000,000

0

Ph

Anh V

Nguyễn Thị Mỹ

Hoàng 21

1987

652,000,000

0

H

Anh V

Hoàng 22 Nguyễn Hồng T 1992

330,000,000

33,000,000

Anh V

Hoàng 23

Trần Đăng Tr

1990

310,000,000

10,000,000

Anh V

Hoàng 24 Hoàng Tuấn A

1988

303,000,000

0

Anh V

Hoàng 25

Bùi Xuân S

1980

303,000,000

0

Anh V

Hoàng 26

Mai Thế T

1977

366,000,000

10,000,000

Anh V

Hoàng 27

Lê Văn H

1980

310,000,000

0

Anh V

Phạm Thành

Hoàng 28

1989

317,000,000

20,000,000

Tuấn V

Anh V

Hoàng 29 Nguyễn Văn T

1991

303,000,000

0

Anh V

Hoàng 30

Đỗ Thị B

1985

350,000,000

10,000,000

Anh V

Hoàng 31

Võ Văn T

1980

303,000,000

0

Anh V

Hoàng 32

Vũ Văn H

1987

310,000,000

0

Anh V

Hoàng 33

Lê Thị

1985 1,240,000,000

0

Anh V

Hoàng 34

Phạm Thị L

1988

310,000,000

10,000,000

Anh V

Hoàng 35

Nguyễn Thị T

1993

373,000,000

0

Anh V

Hoàng 36

Phạm Thị Ph

1974

330,000,000

0

Anh V

Hoàng 37

Lê Thanh T

1981

170,500,000

0

Anh V

Hoàng 38

Bùi Văn T

1970

329,000,000

10,000,000

Anh V

Hoàng 39 Hoàng Ngọc H

1988

310,000,000

10,000,000

Anh V

Hoàng 40

Trần Hữu T

1986

310,000,000

10,000,000

Anh V

Hoàng 41

Hoàng Thị T

1977

325,000,000

0

Anh V

Hoàng 42

Nguyễn Thị C

1973

350,000,000

10,000,000

Anh V

Hoàng 43

Ngô Minh Th

1979

353,000,000

10,000,000

Anh V

Hoàng 44 Nguyễn Văn L

1983

310,000,000

0

Anh V

Hoàng 45 Nguyễn Văn H

1989

310,000,000

0

Anh V

Hoàng 46

Phùng Văn L

1989

300,000,000

10,000,000

Anh V

Hoàng 47

Phạm Văn Ph

1983

382,000,000

76,400,000

Anh V

Hoàng 48 Nguyễn Đức T

1985

508,000,000

0

Anh V

Hoàng 49

Điều Trọng T

1977

930,000,000

0

Anh V

Hoàng 50 Nguyễn Hồng Đ 1983

310,000,000

62,000,000

Anh V

Trần Thị Thanh

Hoàng 51

1991

340,000,000

0

H

Anh V

Hoàng 52

Nguyễn Thị T

1952

740,000,000

0

Anh V

Hoàng 53 Nguyễn Hữu S

1987

606,000,000

20,000,000

Anh V

Nguyễn Thị

Hoàng 54

1974

310,000,000

62,000,000

Phương A

Anh V

Hoàng 55

Lê Văn T

1985

303,000,000

0

Anh V

Hoàng 56

Vòng Nhọc L

1988

594,000,000

0

Anh V

Hoàng 57

Mai Đăng K

1979

279,000,000

10,000,000

Anh V

Hoàng 58

Lỷ Chủ M

1995

397,000,000

0

Anh V

Hoàng 59

Lê Thị Ng

1986

588,000,000

0

Anh V

Hoàng 60 Nguyễn Xuân H 1983

355,000,000

0

Anh V

Hoàng 61

Trần Đức Q

1989

288,000,000

0

Anh V

Hoàng 62 Nguyễn Đức L

1973

303,000,000

0

Anh V

Hoàng 63 Trương Tấn Đ

1980

310,000,000

10,000,000

Anh V

Hoàng 64

Đặng Quế T

1978

337,000,000

0

Anh V

Hoàng 65 Huỳnh Minh Ng 1978

634,000,000

0

Anh V

Hoàng 66

Nguyễn Thị H

1983

240,000,000

10,000,000

Anh V

Hoàng 67 Nguyễn Tiến D 1982

340,000,000

68,000,000

Anh V

Hoàng 68

Phan Xuân Th

1985

303,000,000

10,000,000

Anh V

Hoàng 69

Lê Thiên L

1989

397,000,000

0

Anh V

Nguyễn Quốc

Hoàng 70

1982

310,000,000

0

Tr

Anh V

Hoàng 71

Ngô Văn H

1981

410,000,000

0

Anh V

Hoàng 72

Phạm Thế D

1985

620,000,000

0

Anh V

Hoàng 73

Phạm Đức H

1982

310,000,000

0

Anh V

Hoàng 74 Nguyễn Công S 1985

303,000,000

60,000,000

Anh V

Hoàng 75

Đào Văn S

1982

310,000,000

0

Anh V

Hoàng 76

Đỗ Thanh T

1986

295,000,000

95,000,000

Anh V

Hoàng 77

Nguyễn Thị L

1995

310,000,000

0

Anh Vui

Hoàng 78 Nguyễn Anh Th 1991

344,000,000

10,000,000

Anh V

Hoàng 79 Trương Mạnh L 1989

310,000,000

0

Anh V

Phan Thị Thúy

Hoàng 80

1987

298,000,000

0

H

Anh V

Huỳnh Thị

Hoàng 81

1983

333,000,000

80,000,000

Ngọc H

Anh V

Nguyễn Thị

Hoàng 82

1975

293,000,000

0

Thanh T

Anh V

Hoàng 83

Thái Văn Th

1981

310,000,000

10.000.000

Anh V

Hoàng 84 Trần Hồng Nh

1992

320,000,000

10,000,000

Anh V

Nguyễn Xuân

Hoàng 85

1987

333,000,000

10,000,000

Tr

Anh V

Hoàng 86 Huỳnh Tấn Vư

1990

318,000,000

0

Anh V

Hoàng 87 Trương Văn T

1982

403,000,000

80,600,000

Anh V

Hoàng 88 Nguyễn Văn A

1981

366,000,000

15,000,000

Anh V

Hoàng 89

Lê Hữu Ph

1982

620,000,000

20,000,000

Anh V

Nguyễn Thi Thu

Hoàng 90

1989

310,000,000

10,000,000

H

Anh V

Trần Thị Cẩm

Hoàng 91

1991

291,000,000

0

Nh

Anh V

Hoàng 92

Phạm Ngọc Q

1983

340,000,000

0

Anh V

Phùng Thị

Hoàng 93

1984

312,000,000

0

Phương L

Anh V

Hoàng 94

Vũ Văn Th

1988

319,000,000

0

Anh V

Hoàng 95 Trương Văn T

1990

314,000,000

95,000,000

Anh V

Hoàng 96

Lê Văn Ng

1987 1,860,000,000

0

Anh V

Nguyễn Thị L

Hoàng 97

1990

210,000,000

0

(Lâm Hốc S)

Anh V

Hoàng 98

Thái Thị Q

1984

310,000,000

0

Anh V

Hoàng 99

Lê Huy K

1978

303,000,000

0

Anh V

Hoàng 100 Nguyễn Văn T

1985

303,000,000

0

Anh V

Hoàng 101

Bùi Xuân T

1989

303,000,000

0

Anh V

Hoàng 102 Phan Minh V

1983

337,000,000

0

Anh V

Hoàng 103 Trần Đình Nh

1970

586,000,000

0

Anh V

Hoàng 104

Đặng Ích L

1982

293,000,000

0

Anh V

Hoàng 105

Lê Văn T

1988

303,000,000

0

Anh V

Nguyễn Đình

Hoàng 106

1985

310,000,000

0

Th

Anh V

Hoàng 107

Đặng Văn Tr

1987

310000000

10000000

Anh V

Hoàng 108

Trần Văn Ch

1993

325,000,000

10,000,000

Anh V

1992

Hoàng 109

Đặng Tất H

372,000,000

30,000,000

Anh V

Hoàng 110 Nguyễn Văn Q

1983

304,000,000

0

Anh V

Hoàng 111

Lê Anh T

1981 1,067,000,000

0

Anh V

Nguyễn 112 Huỳnh Văn U

1989

325,000,000

80,000,000

Thanh H

Nguyễn Thị

Nguyễn 113

1990

366,000,000

210,000,000

Kiều N

Thanh H

Phạm Vũ T

Hoàng 114

1982

365,000,000

83,000,000

(Lê Thị U)

Anh V

Nguyễn Phan

Hoàng 115

1986

310,000,000

70,000,000

Phi V

Anh V

Hoàng 116 Nguyễn Vũ M

1979

376,000,000

10,000,000

Anh V

Hoàng 117 Hà Bảo Thảo Q 1976

600,000,000

0

Anh V

Hoàng 118 Nguyễn Văn M 1979

324,000,000

0

Anh V

Hoàng 119 Dương Đình Th 1970

293,000,000

0

Anh V

Hoàng 120 Nguyễn Thị Ch 1980

303,000,000

0

Anh V

Hoàng 121 Nguyễn Thị Th 1989

244,000,000

244,000,000

Anh V

Hoàng 122 Phan Minh Tr

1987

388,000,000

388,000,000

Anh V

Hoàng 123 Trần Hùng D

1988

315,000,000

315,000,000

Anh V

Hoàng 124 Nguyễn Trí T

1977

340,000,000

408,000,000

Anh V

Hoàng 125 Nguyễn Thị H

1978

275,000,000

275,000,000

Anh V

Hoàng 126

Bùi Thị L

1977

370,000,000

440,000,000

Anh V

Hoàng 127 Đặng Xuân T

1987

310,000,000

327,600,000

Anh V

Hoàng 128 Đậu Xuân Ph

1991

310,000,000

325,000,000

Anh V

Hoàng 129 Nguyễn Cao Th 1986

306,500,000

326,500,000

Anh V

Hoàng 130

Phạm Thị H

1978

310,000,000

330,000,000

Anh V

Hoàng 131 Nguyễn Thị Ng 1964

326,500,000

359,150,000

Anh V

Hoàng 132 Nguyễn Văn L

1981

356,000,000

376,000,000

Anh V

Hoàng 133 Đỗ Thị Thu H

1979

354,000,000

354,000,000

Anh V

Hoàng 134

Lê Minh C

1975

306,500,000

325,000,000

Anh V

TỔNG

52,043,000,000 6,688,450,000

Sau khi bị phát hiện, bị tố giác, Nguyễn Thanh H cùng đồng bọn đã trả lại cho các bị hại tổng là: 6.688.450.000 đồng (sáu tỷ sáu trăm tám mươi tám triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng), còn chiếm đoạt số tiền chưa trả là: 45.636.300.000 đồng (bốn mươi lăm tỷ sáu trăm ba mươi sáu triệu ba trăm nghìn đồng), trong đó: Hoàng Anh V trực tiếp ký 158 hợp đồng chuyển nhượng 158 lô đất cho 132 bị hại, chiếm đoạt tổng số tiền: 51.352.000.000 đồng (năm mươi mốt tỷ ba trăm năm mươi hai triệu đồng). Đã trả lại cho bị hại tổng là: 6.398.450.000 đồng (sáu tỷ ba trăm chín mươi tám triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng), còn chiếm đoạt chưa trả là: 44.953.550.000 đồng (bốn mươi bốn tỷ chín trăm năm mươi ba triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng). Nguyễn Thanh H trực tiếp ký 02 hợp đồng chuyển nhượng 02 lô đất cho 02 bị hại, chiếm đoạt tổng là: 691.000.000 đồng (sáu trăm chín mươi mốt triệu). Đã trả lại cho bị hại là: 290.000.000 đồng (hai trăm chín mươi triệu đồng), còn chiếm đoạt số tiền chưa trả là: 401.000.000 đồng (bốn trăm lẻ một triệu đồng).

Trong thời gian xin đăng ký thực hiện dự án, Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V đại diện Công ty Thắng L ký đổi 04 hợp đồng chuyển nhượng cho 04 bị hại tại dự án “Khu dân cư Green City 2” (do Vui sử dụng pháp nhân Công ty Bình Dương CityLand ký trước đó) sang hợp đồng chuyển nhượng tại dự án “Khu nhà ở Phúc L 2”, thời gian ký kết hợp đồng và nội dung hợp đồng không thay đổi.

Ngày 12/08/2019, Nguyễn Thanh H ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất trên cho ông Vũ Minh T (sinh năm: 1984, HKTT: 92/2/16 Bình L, Ph 13, quận Bình Th, Thành phố Hồ Chí Minh) tại Văn phòng Công chứng Phú Th, địa chỉ: khu phố Đông T, phường Tân Đông H, thị xã Dĩ A (nay là thành phố Dĩ A), tỉnh Bình D. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Phú G đăng ký biến động điều chỉnh GCNQSDĐ sang cho ông Vũ Minh T vào ngày 17/9/2019. (Trên thực tế là hợp đồng chuyển nhượng giả cách để vay tiền của T, nội dung này liên quan đến vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại dự án Khu dân cư Phú Th, nêu tại phần sau).

5. Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh Vu Lê Văn C thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại dự án Khu dân cư Green City 3.

Ngày 05/11/2018, sau khi thu tiền của nhiều khách hàng tại các dự án trước, Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C tiếp tục thống nhất tiến hành đặt cọc mua đất nông nghiệp tại thửa đất số 66, 67, tờ bản đồ số 37, diện tích: 30.306 m2, địa chỉ: xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D được Ủy ban nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V915016 (số vào sổ cấp GCN: 01049QSDĐ/3263,3264/QĐ-UB) ngày 10/10/2002 cho hộ ông Ngô Sơn Ch với số tiền 10.000.000.000 đồng (mời tỷ đồng). Giá trị chuyển nhượng là: 24.700.000.000 đồng (hai mươi bốn tỷ bảy trăm triệu đồng).

Ngày 15/3/2019, tại Văn phòng Công chứng Bàu B, tỉnh Bình D, Nguyễn Thanh H mới được hộ ông Ngô Sơn Ch ký hợp đồng ủy quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 66, 67, tờ bản đồ số 37, diện tích: 30.306 m2, địa chỉ: xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D được Ủy ban nhân dân thị xã Bến C, tỉnh Bình D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V915016 (số vào sổ cấp GCN: 01049QSDĐ/3263,3264/QĐ-UB) ngày 10/10/2002 cho hộ ông Ngô Sơn Châu. Ngày 17/12/2018, ngày 09/01/2019 và ngày 27/02/2019 Nguyễn Thanh H đã trả hết cho ông Ch tổng là: 14.700.000.000 đồng (mười bốn tỷ bảy trăm triệu đồng).

Ngày 27/11/2018, Nguyễn Thanh H đại diện Công ty Bình Dương CityLand nộp đơn đăng ký dự án “Khu nhà ở Phố X 2” (khu đất xin dự án với diện tích: 5,9ha bao gồm dự án “Khu dân cư Green City 2” với diện tích: 28.833,1 m2 và khu đất liền kề thực hiện dự án “Khu dân cư Green City 3”: diện tích: 30.306 m2) đến Sở Xây Dựng tỉnh Bình Dương. Ngày 12/12/2018, Sở Xây Dựng tỉnh Bình Dương trả lời khu đất thực hiện đăng ký dự án không phù hợp quy hoạch. Ngày 13/5/2019, Nguyễn Thanh H đại diện Công ty Thắng L tiếp tục nộp đơn đăng ký dự án “Khu nhà ở Phúc L 2” (khu đất xin dự án với diện tích: 5,9 ha bao gồm dự án “Khu dân cư Green City 2” với diện tích: 28.833,1 m2 và dự án “Khu dân cứ Green City 3”, diện tích: 30,306 m2) đến Sở Xây Dựng tỉnh Bình D. Ngày 17/5/2019 Sở Xây Dựng tỉnh Bình D trả lời không có cơ sở xem xét. Ngày 17/5/2019, Sở Xây Dựng tỉnh Bình D ban hành văn bản số 1793/SXD-QLN về việc thông báo đăng ký đầu tư dự án Khu nhà ở Phúc L 2, nội dung văn bản thể hiện: Sở Xây Dựng tỉnh Bình D nhận thấy khu đất Công ty đăng ký đầu tư dự án hiện đang thuộc quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân (Nguyễn Thanh H; Ngô Sơn Ch) chưa thuộc quyền sử dụng của Công ty. Do đó, Sở Xây Dựng không có cơ sở để xem xét việc đăng ký làm chủ đầu tư dự án theo đề nghị của Công ty (Như vậy, dự án “Khu dân cư Green City 3”, sau này đổi tên là “Khu nhà ở Phúc L 2” không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép đầu tư theo quy định).

Ngay sau khi đặt cọc, Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V và Lê Văn C thống nhất đặt tên dự án là dự án “Khu dân cư Green City 3” trên thửa đất do hộ ông Châu làm chủ, lập sơ đồ dự án tổng cộng 342 lô đất, diện tích mỗi lô từ 90 đến 126,6 m2, lập bảng giá từng lô đất, lập mẫu hợp đồng ký kết với khách hàng và triển khai thông tin dự án cho toàn bộ nhân viên kinh doanh Công ty để chào bán nhằm chiếm đoạt tiền của các khách hàng và thỏa thuận vai trò, thống nhất thực hiện.

Nguyễn Thanh H là Tổng giám đốc Công ty Bình Dương CityLand, có vai trò tương tự như những dự án trước đó. Hoàng Anh V được phân công làm Phó Giám đốc phụ trách pháp lý vai trò như những dự án trước, đại diện Công ty Bình D CityLand ký giấy tờ giao dịch với khách hàng mua đất như: hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng, phiếu thu tiền. Lê Văn C là Trưởng phòng kinh doanh cũng như những dự án trước có nhiệm vụ quản lý các nhân viên phòng kinh doanh triển khai, tìm kiếm khách hàng và hỗ trợ nhân viên kinh doanh. …

Mặc dù thửa đất mới đặt cọc, chưa thực hiện xong việc chuyển quyền sử dụng đất và chưa được cơ quan nhà nước phê duyệt chủ trương thực hiện dự án nhưng từ tháng 11 năm 2018 đến cuối năm 2019, nhân viên đã đưa ra các thông tin gian dối do Hùng, Khoa, Vui và Công truyền đạt như trên cho 85 bị hại đồng ý làm hợp đồng để Vui đại diện Công ty Bình Dương CityLand và Công ty Thắng Lợi ký 102 hợp đồng chuyển nhượng 102 lô đất cho 85 bị hại tại dự án “Khu dân cư Green City 3” (có danh sách thống kê cụ thể phụ lục 05 kèm theo), sau này đổi tên dự án “Khu nhà ở Phúc Long 2”, chiếm đoạt tổng là: 36.654.300.000 đồng (ba mươi sáu tỷ sáu trăm năm mươi tư triệu ba trăm nghìn đồng).

Danh sách người bị hại, số tiền chiếm đoạt và số tiền đã trả lại như sau:

SIN

HỌ TÊN

H

SỐ TIỀN

SỐ TIỀN

NGƯỜI STT

KHÁCH HÀNG NĂ

ĐÃ NỘP

TRẢ LẠI

KÝ HĐ

M

Hoàng Anh

1

Nguyễn Văn Y 1993 351,000,000

0

V

Hoàng Anh

2

Trần Thị H

1989 325,000,000

0

V

3

Châu Văn C

1987 401,000,000

0

Hoàng Anh

V

Hoàng Anh

4

Chắng Minh T 1991 358,000,000

0

V

Hoàng Anh

5

Huỳnh Thanh H 1981 816,000,000

20,000,000

V

Hoàng Anh

6

Trương Thị H

1988 321,000,000

0

V

Nguyễn Phương

Hoàng Anh

7

1974 325,000,000

0

Ng

V

Hoàng Anh

8

Lê Anh T

1985 325,000,000

0

V

Hoàng Anh

9

Hà Thị M

1971 646,000,000

0

V

Hoàng Anh 10

Hoàng Tuấn A 1988 432,500,000

0

V

Hoàng Anh 11

Nguyễn Văn T 1984 332,000,000 215,000,000

V

Hoàng Anh 12

Nguyễn Văn C 1992 332,000,000

0

V

Hoàng Anh 13

Nguyễn Văn Đ 1991 332,000,000

0

V

Nguyễn Quốc H

Hoàng Anh 14

1987 388,000,000

10,000,000

Huỳnh Vũ L

V

Hoàng Anh 15

Phạm Công L

1987 351,000,000

0

V

Hoàng Anh 16

Lê Thị Bích N 1987 351,000,000

10,000,000

V

Hoàng Anh 17

Trần Văn Ph

1968 1,771,000,000 30,000,000

V

Hoàng Anh 18

Phạm Hồng N

1985 401,000,000

0

V

Hoàng Anh

Lê Ngọc D

1992 351,000,000

10,000,000

V

Hoàng Anh 20

Phan Thị H

1982 381,000,000

10,000,000

V

Hoàng Anh 21

Đoàn Quốc Th 1985 321,500,000

0

Vui

Hoàng Anh 22

Lê Ánh Tr

1991 325,000,000

10,000,000

V

Hoàng Anh 23

Bùi Thị H

1974 636,000,000

20,000,000

V

Hoàng Anh 24

Nguyễn Minh Th 1983 344,000,000

10,000,000

V

Hoàng Anh 25

Huỳnh Như Y

1988 351,000,000

0

V

Hoàng Anh 26

Phan Văn Q

1976 351,000,000

0

V

Hoàng Anh 27

Cao Thị C

1981 762,000,000

20,000,000

V

Hoàng Anh 28

Phan Quan L

1989 325,000,000

0

V

Nguyễn Thị Ngọc

Hoàng Anh 29

1974 344,000,000

10,000,000

L

V

Huỳnh Thị Thanh

1993

Hoàng Anh 30

Th

325,000,000

60,000,000

1979

V

Dương Chí T

Hoàng Anh 31

Lê Văn Th

1968 404,000,000

10,000,000

V

Hoàng Anh 32

Trần Thị Lê Ch 1987 325,000,000

0

V

Hoàng Anh 33

Nguyễn Văn L 1989 358,000,000

0

V

Hoàng Anh

Nguyễn Kim Tr 1988 332,000,000

V

Hoàng Anh 35

Nguyễn Công Ph 1983 351,000,000

0

V

Hoàng Anh 36

Nguyễn Thị Th 1992 325,000,000

0

V

Hoàng Anh 37

Phóng Quốc H 1980 325,000,000

0

V

Hoàng Anh 38

Thạch Văn T

1985 381,000,000

10,000,000

V

Hoàng Anh 39

Trần Ngọc K

1993 325,000,000

0

V

Hoàng Anh 40

Lê Thị Kim C

1965 325,000,000

10,000,000

V

Hoàng Anh 41

Dương Chí C

1984 276,300,000

0

V

Hoàng Anh 42

Trần Quốc T

1982 351,000,000

0

V

Hoàng Anh 43

Lỷ Quang S

1988 358,000,000

0

V

Hoàng Thanh

Hoàng Anh 44

1991 351,000,000

0

Chính

V

Hoàng Anh 45

Trịnh Thị L

1988 351,000,000

0

V

Hoàng Anh 46

Hà Văn B

1988 351,000,000

60,000,000

V

Hoàng Anh 47

Lê Thị Ng

1982 325,000,000

10,000,000

V

Hoàng Anh 48

Nguyễn Thị H 1978 351,000,000

10,000,000

V

Lê Văn T

1975 401,000,000

Hoàng A V

Hoàng Anh

Lê Thị Hồng M 1987 401,000,000

10,000,000

V

Hoàng Anh 51

Phạm Huy Th

1987 351,000,000

10,000,000

V

Hoàng Anh 52

Hoàng Thị V

351,000,000

10,000,000

V

Hoàng Anh 53

Nguyễn Thế L 1989 650,000,000

10,000,000

V 54

Ngô Xuân Q

1975 310,000,000

0

Hoàng Anh 55

Võ Thị L

1993 325,000,000

10,000,000 Hoàng Anh

Hoàng Anh 56

Trần Hưng L

1993 351,000,000

0

V

Hoàng Anh 57

Trần Văn H

1988 325,000,000

0

V

Nguyễn Thị

Hoàng Anh 58

1955 650,000,000

0

Thanh T

V

Hoàng Anh 59

Lê Đăng T

1988 328,500,000

0

V

Hoàng Anh 60

Tạ Văn Hùng

1978 332,000,000

0

V

Hoàng Anh 61

Phạm Thị Kim T 1979 436,000,000

0

V

Trần Tiến D

(Người được ủy

Hoàng Anh 62

1984 325,000,000 130,000,000

quyền: Nguyễn

V

Thị Th)

Hoàng Anh 63

Nguyễn Thị Ph 1988 325,000,000

32,500,000

V

Bùi Thị L

Hoàng Anh 64

(mẹ của bị hại

1962 358,000,000

0

V

Nguyễn Vă L)

Hoàng Anh

Nguyễn Quốc Đ 1984 411,000,000

V

Hoàng Anh 66

Nguyễn Đình V 1991 351,000,000

0

V

Hoàng Anh 67

Biện Văn N

1973 1,224,000,000

0

V

Hoàng Anh 68

Hồ Văn Ph

1992 351,000,000

10,000,000

V

Phan Thị Hoàng

Hoàng Anh 69

1982 351,000,000

0

L

V

Hoàng Anh 70

Phan Thị Tuyết V

1,975,000,000 50,000,000

V

Nguyễn Thị

Hoàng Anh 71

1988 381,000,000 157,200,000

Thành Đ

V

-Hoàng

Anh V 72

Nguyễn Trọng D 1990 401,000,000

10,000,000

- Tạ Ngọc

H

(ký đổi )

Hoàng Anh 73

Phạm Văn C

1990 358,000,000

0

V

Hoàng Anh 74

Nguyễn Văn L 1987 401,000,000

0

V

Hoàng Anh 75

Hoàng Văn H

1988 845,000,000

0

V

Hoàng Anh 76

Trần Văn Đ

1996 363,000,000

0

V

Hoàng Anh 77

Nguyễn Thị Nh 1988 374,500,000

0

V

Hoàng Anh 78

Trương Văn H 1994 358,000,000

0

V

Hoàng Anh

Nguyễn Văn T 1981 436,000,000

V

Hoàng Anh 80

Lê Hoàng C

1983 872,000,000

0

V

Nguyễn Tiến

Hoàng Anh 81

1982 358,000,000

0

Phương

V

Hoàng Anh 82

Hoàng Văn H

1984 325,000,000 336,400,000

V

Hoàng Anh 83

Trần Thị Ng

1978 300,000,000 295,000,000

V

Hoàng Anh 84

Lã Thanh T

1982 250,000,000 293,000,000

V

Hoàng Anh 85

Vũ Văn Ch

1982 230,000,000 230,000,000

V

TỔNG

36,654,300,000 2,139,100,000

Sau khi bị phát hiện, bị tố giác Nguyễn Thanh H và đồng phạm đã trả lại cho bị hại tổng là: 2.139.100.000 đồng (hai tỷ một trăm ba mươi chín triệu một trăm nghìn đồng), tiền còn chiếm đoạt chưa trả là: 34.564.600.000 đồng (ba mươi tư tỷ năm trăm sáu mươi tư triệu sáu trăm nghìn đồng), trong đó:

- Hoàng Anh V trực tiếp ký 102 hợp đồng chuyển nhượng 102 lô đất cho 85 bị hại, chiếm đoạt tổng: 36.654.300.000 đồng (ba mươi sáu tỷ sáu trăm năm mươi tư triệu ba trăm nghìn đồng). Đã trả lại cho bị hại tổng là: 2.139.100.000 đồng (hai tỷ một trăm ba mươi chín triệu một trăm nghìn đồng), còn chiếm đoạt chưa trả là: 34.564.600.000 đồng (ba mươi tư tỷ năm trăm sáu mươi tư triệu sáu trăm nghìn đồng). Trong đó: Hoàng Anh V ký 01 Hợp đồng tên dự án ban đầu là Phúc Long 2, sau đó Tạ Ngọc H ký đổi hợp đồng từ Phúc Long 2 sang Green City 3 (cùng vị trí dự án) chuyển nhượng 01 lô đất cho 01 bị hại, chiếm đoạt: 401.000.000 đồng (bốn trăm lẻ một triệu đồng). Đã trả lại số tiền trả lại cho bị hại: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), còn chiếm đoạt chưa trả là: 391.000.000 đồng (ba trăm chín mươi mốt triệu đồng).

Ngày 05/8/2019, Nguyễn Thanh H vay của ông Nguyễn Chí C (sinh năm 1956, HKTT: K1/21 lô A 1, Tổ 14, phường Hiệp Th thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D) 6.000.000.000 đồng (sáu tỷ đồng) bằng hình thức ký uỷ quyền toàn quyền đối với thửa đất trên tại Văn phòng Công chứng Bàu B, tỉnh Bình D. Ngày 02/01/2020, Nguyễn Thanh H vay của ông Trần Văn Q (sinh năm 1984, HKTT: thôn Thượng H, xã Phú L, huyện Can L, tỉnh Hà T và bà Nguyễn Thị C (sinh năm 1974, HKTH: Khu phố 4, phường Thới H, thị xã Bến C, tỉnh Bình D) 10.000.000.000 đồng (mười tỷ đồng). H đề nghị ông Công ký hợp đồng uỷ quyền cho ông Q và bà Ch tại Văn phòng Công chứng Sở Sao, địa chỉ: số 1459 Đại lộ Bình D, Khu phố 4, phường Hiệp A, thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D, để đảm bảo hợp đồng vay.

6. Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại dự án Khu dân cư Phúc L City.

Ngày 02/10/2018, sau khi thu được tiền bán đất các dự án trước, Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C thống nhất tiến hành đặt cọc và kêu Tạ Ngọc H là người trực tiếp đặt cọc: 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) mua thửa đất số 06, tờ bản đồ số 57, diện tích: 15.897 m2 tại xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D của bà Võ Thị Kim Ph với giá trị mua bán là: 6.480.000.000 đồng (sáu tỷ bốn trăm tám mươi triệu đồng). Ngày 07/12/2018, bà Võ Thị Kim Ph và ông Huỳnh Đinh Ngọc H ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho Lê Văn C, nhận toàn bộ số tiền còn lại là 6.180.000.000 đồng (sáu tỷ một trăm tám mươi triệu đồng). Ngày 10/12/2018, bà Phượng, ông H tiếp tục ký Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Lê Văn C, nội dung thay đổi: giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là: 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) sang giá chuyển nhượng là 6.480.000.000 đồng (sáu tỷ bốn trăm tám mươi triệu đồng). Ngày 24/12/2018, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Phú G đăng ký biến động điều chỉnh sang tên cho Lê Văn C.

Ngày 13/12/2019, Hoàng Anh Vui đại diện Công ty Thành C nộp đơn đến Sở Xây Dựng tỉnh Bình D để đăng ký về việc làm chủ đầu tư dự án Khu nhà ở Thành C 2, xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D. Ngày 06/01/2020, Sở Xây Dựng tỉnh Bình D ban hành công văn số 38/SXD-QLN gửi Công ty Thành C, nội dung công văn trả lời: hiện tại khu đất không phù hợp để đầu tư xây dựng dự án phát triển nhà ở do diện tích đất theo quy hoạch được bố trí sử dụng vào mục đích đất trồng cây lâu năm, nên việc xem xét hồ sơ dự án Khu nhà ở Thành C 2 tại xã Phước H, huyện Phú G là không có cơ sở xem xét. (Như vậy, dự án “Khu dân cư Phúc L City”, sau này đổi tên là “Khu nhà ở Thành C 2” không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép đầu tư theo quy định).

Ngay sau khi đặt cọc, Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C thống nhất đặt tên dự án là “Khu dân cư Phúc L City” trên thửa đất của bà Ph, lập sơ đồ dự án tổng số 104 lô đất, diện tích mỗi lô 125 m2, lập bảng giá từng lô đất, lập mẫu hợp đồng ký kết với khách hàng và triển khai thông tin dự án cho toàn bộ nhân viên kinh doanh Công ty để chào bán nhằm chiếm đoạt tiền của các khách hàng và thỏa thuận phân công vai trò, thống nhất thực hiện.

Nguyễn Thanh H là tổng giám đốc Công ty Bình Dương CityLand vai trò cũng tương tự các dự án trước. Hoàng Anh V được phân công làm Phó Giám đốc phụ trách pháp lý để đứng đại diện Công ty Bình Dương CityLand để ký giấy tờ giao dịch với khách hàng mua đất: hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng, phiếu thu tiền. Lê Văn C trong dự án này là người trực tiếp đứng tên đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để triển khai dự án “Khu dân cư Phúc L City” và phân công là Trưởng phòng kinh doanh có nhiệm vụ như những dự án trước và tham gia ký hợp đồng với khách hàng.

Mặc dù thửa đất mới đặt cọc, chưa thực hiện xong việc chuyển quyền sử dụng đất và chưa được cơ quan nhà nước phê duyệt chủ trương thực hiện dự án nhưng từ tháng 10/2018 đến 12/2018, nhân viên đã đưa ra các thông tin gian dối do H, V và C truyền đạt như trên cho 69 bị hại đồng ý làm hợp đồng để V, Công đại diện Công ty Bình Dương CityLand ký 81 hợp đồng về việc chuyển nhượng 81 lô đất cho 69 bị hại (có danh sách thống kê cụ thể Phụ lục số 06 kèm theo), chiếm đoạt tổng cộng: 19.722.500.000 đồng (mười chín tỷ bảy trăm hai mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Danh sách người bị hại, số tiền chiếm đoạt và số tiền đã trả lại như sau:

BỊ

Họ tên

SINH

SỐ TIỀN ĐÃ

SỐ TIỀN CTY ĐÃ STT

CÁOKÝ

KH

NĂM

NỘP

TRẢ

HĐ

Nguyễn

Hoàng

1

1983

476,500,000

0

Thị Nh

Anh V

Vũ

Hoàng

2

Thành

1979

236,500,000

10,000,000

Anh V

Ph

Cao

Hoàng

3

1991

240,000,000

10,000,000

Văn L

Anh V

Lê

Hoàng

4

Quang

1986

270,000,000

0

Anh V

Ph

Trần

Thị

Hoàng

5

1985

240,000,000

0

Thanh

Anh V

Tr

Nguyễn

Đình

Hoàng

6

Ph

1990

270,000,000

10,000,000

Anh V

Nguyễn

Thị Th

1978

270,000,000

Hà Thị

Hoàng

Đ

Anh V

Phạm

Hoàng

8

1987

233,000,000

0

Văn Đ

Anh V

Phan

Hoàng

9

1991

236,500,000

0

Văn S

Anh V

Đặng

Hoàng 10

1979

240,000,000

0

Thị R

Anh V

Trịnh

Hoàng 11

1988

240,000,000

10,000,000

Thị L

Anh V

Trần

Lê Văn 12

1992

270,000,000

0

Thị C

C

Đào

Hoàng 13

1989

270,000,000

0

Kim H

Anh V

Đào

Hoàng 14

1993

240,000,000

0

Văn H

Anh V

Phạm

Hoàng 15

1989

240,000,000

0

Văn L

Anh V

Nguyễn

Hoàng 16

1984

200,000,000

10,000,000

Đình V

Anh V

Phạm

Hoàng 17

1981

270,000,000

10,000,000

Ngọc D

Anh V

Nguyễn

Hoàng 18

1984

220,000,000

0

Văn D

Anh V

Khổng

Hoàng 19

1987

540,000,000

20,000,000

Thị T

Anh V

Nguyễn

Hoàng 20

1987

236,500,000

0

Văn L

Anh V

Vũ Thị

Hoàng 21

1981

240,000,000

0

Ng

Anh V

Nguyễn

Hoàng 22

1981

300,000,000

10,000,000

M Hiếu

Anh V

Nguyễn

Hoàng 23

Hoàng

1993

240,000,000

0

Anh V

S

Nguyễn

Hoàng 24

1991

240,000,000

0

Minh H

Anh V

Lê Thị

Hoàng 25

1985

200,000,000

40,000,000

N

Anh V

Phạm

Hoàng 26

1990

240,000,000

0

Thị B

Anh V

Nguyễn

Hoàng 27

1977

240,000,000

10,000,000

Đình T

Anh V

Trần

Thị

Hoàng 28

1976

270,000,000

0

Phương

Anh V

L

Nguyễn

Thị Th

(Ủy

Hoàng 29

quyền

1994

505,000,000

0

Anh V

cho

Phan

Văn D)

Trần

Hoàng 30

1982

1,080,000,000

0

Văn T

Anh V

Võ Thị

Hoàng 31

1977

270,000,000

0

K

Anh V

Nguyễn

Hoàng 32

1976

240,000,000

0

Sỹ V

Anh V

Đoàn

Hoàng 33

Hữu

1983

300,000,000

0

Anh V

Tài

Phạm

Hoàng 34

1979

240,000,000

0

Thị D

Anh V

Tạ

Hoàng 35

Vĩnh

1990

240,000,000

0

Anh V

Ph

Nguyễn

Hoàng 36

1979

236,500,000

0

Văn L

Anh V

Hà

Hoàng 37

Phước

1982

240,000,000

0

Anh V

C

Nguyễn

Hoàng 38

1987

220,000,000

10,000,000

Thị Th

Anh V

Trần

Hoàng 39

Quyết

1987

230,000,000

10,000,000

Anh V

Th

Phạm

Hoàng 40

Hoàng

1969

436,000,000

0

Anh V

S

Hoàng

Hoàng 41

1979

530,000,000

0

Thị Ph

Anh V

Nguyễn

Hoàng 42

1990

473,000,000

20,000,000

Nhật A

Anh V

Trần

Hoàng 43

1994

220,000,000

0

Văn H

Anh V

Hà Văn

Hoàng 44

1986

220,000,000

0

Ch

Anh V

Nguyễn

Hoàng 45

1989

240,000,000

0

Thị H

Anh V

Võ

Hoàng 46

Phan

1995

266,500,000

0

Anh V

Ng

Võ

Hoàng 47

1992

533,000,000

0

Phan T

Anh V 48

1983

270,000,000

0

Nguyễn

Hoàng

Th A

Anh V

Nguyễn

Hoàng 49

1975

220,000,000

0

Thị Th

Anh V

Lê Thị

Hoàng 50

1989

270,000,000

0

Ngọc L

Anh V

Lê Thái

Hoàng 51

1983

202,000,000

10,000,000

S

Anh V

Trần

Hoàng 52

1987

220,000,000

0

Văn Nh

Anh V

Phạm

Hoàng 53

1975

216,500,000

0

Thị B

Anh V

Trần

Hoàng 54

1976

220,000,000

0

Thị D

Anh V

Dương

Hoàng 55

Mãn

1990

240,000,000

0

Anh V

Ng

Phạm

Hoàng 56

1985

240,000,000

0

Thị Th

Anh V

Nguyễn

Hoàng 57

1979

540,000,000

10,000,000

Duy A

Anh V

Bùi Thị

Hoàng 58

1989

220,000,000

0

Xuân A

Anh V

Nguyễn

Thị

Hoàng 59

1985

240,000,000

0

Nguyên

Anh V

S

Lê Văn

Hoàng 60

1986

235,000,000

0

V

Anh V

Trịnh

Hoàng 61

1976

250,000,000

65,000,000

Văn G

Anh V

Hoàng

Trần 62

1974

480,000,000

20,000,000

Anh V

Thị

Kim Y

Hoàng

Hoàng 63

1980

240,000,000

0

Văn Th

Anh V

Võ

Hoàng 64

1984

240,000,000

0

Ngọc Y

Anh V

Lê

Hoàng 65

Hoàng

1983

240,000,000

0

Anh V

Ch

Trần

1972

Hoàng 66

Văn C

270,000,000

0

1974

Anh V

Lê Thị

Đào

Hoàng 67

Hồng

1982

270,000,000

270,000,000

Anh V

V

Lê Thị

Hoàng 68

Ngọc

1992

50,000,000

50,000,000

Anh V

Ph

Đỗ Thị

Hoàng 69

1979

220,000,000

220,000,000

L

Anh V

19,722,500,000

825,000,000

Sau khi bị phát hiện, bị tố giác, Nguyễn Thanh H cùng đồng phạm đã trả lại cho các bị hại tổng là: 285.000.000 đồng (hai trăm tám mươi lăm triệu đồng), tiền chiếm đoạt chưa trả là: 18.897.500.000 đồng (mười tám tỷ tám trăm chín mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng), trong đó: Hoàng Anh V trực tiếp ký 80 hợp đồng với 68 bị hại, chiếm đoạt tổng là: 19.452.500.000 đồng (mười chín tỷ bốn trăm năm mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng). Đã trả lại cho bị hại: 825.000.000 đồng (tám trăm hai mươi lăm triệu đồng), còn chiếm đoạt số tiền chưa trả là: 18.897.500.000 đồng (mười tám tỷ tám trăm chín mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Lê Văn C ký 01 hợp đồng với 01 bị hại, chiếm đoạt số tiền: 270.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi triệu đồng). Đã trả lại cho bị hại: 00 đồng, còn chiếm đoạt số tiền chưa trả là: 270.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi triệu đồng).

Trong quá trình bán đất tại dự án này, ngày 11/10/2018, Uỷ ban nhân dân xã Phước H lập biên bản về việc Công ty Bình Dương CityLand đổ đá làm đường do xã quả lý sai quy định tại khu đất được đặt tên dự án “Khu dân cư Phúc L City”. Lê Văn C đã đại diện bên vi phạm theo sự hướng dẫn của Nguyễn Thanh H đứng ra giải quyết khai là đại diện Công ty gỗ “Đại Ph” tại Dĩ An (Công tự khai ra, không có thật) ký biên bản vi phạm nhằm mục đích không làm ảnh hưởng đến Công ty Bình Dương CityLan giao bán đất. Sau đó, từ ngày 18/10/2018 đến ngày 11/12/2018 Hoàng Anh V, Lê Văn C vẫn ký hợp đồng bán đất chiếm đoạt tài sản của bị hại như nêu trên.

Ngày 19/7/2019, Lê Văn C vay của ông Lê Minh H (sinh năm 1985, nơi cư trú: Ấp 5, xã Vĩnh T, thị xã Tân U, tỉnh Bình D) 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng) bằng hình thức viết giấy vay tiền và ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho cho ông Hưng tại Văn phòng Công chứng Thành Phố Mới, tỉnh Bình D.

7. Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại dự án Khu dân cư Phú Th (giai đoạn 1) – tại Bình Phước.

Ngày 22/5/2019, UBND tỉnh Bình Phước ban hành Quyết định số 1044/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá khởi điểm để tổ chức bán đấu giá quyền sử dụng đất khu dân cư Phú Th (giai đoạn 1), phường Tân Ph, thành phố Đồng X. Chủ tài sản: Sở Xây dựng tỉnh Bình Ph. Tài sản đấu giá là Quyền sử dụng đất khu dân cư Phú Thịnh (giai đoạn 1) bao gồm 04 cụm BT1, BT2, BT3, LK4 (83 lô) với tổng diện tích 16.998,3 m2, giá khởi điểm 184.391.697.958đ (một trăm tám mươi tư tỷ ba trăm chín mươi mốt triệu sáu trăm chín mươi bảy nghìn chín trăm năm mươi tám đồng).

Ngày 19/8/2019, Sở Xây dựng tỉnh Bình Ph ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản số 04/HĐ-DVĐGTS với Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản Bình Phước về việc thuê Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản Bình Ph làm đơn vị tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất Khu dân cư Phú Th. Trong ngày 19/8/2019, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản Bình Phước ban hành thông báo bán đấu giá tài sản và Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất Khu dân cư Phú Th. Theo nội dung quy chế thì người tham gia đấu giá phải nộp tiền đặt trước tương ứng 15% giá khởi điểm của tài sản, trường hợp trúng đấu giá thì số tiền đặt trước sẽ được chuyển thành tiền đặt cọc để đảm bảo việc người mua thực hiện nghĩa vụ tài chính của người trúng đấu giá theo quy định. Về quy định thanh toán tiền mua tài sản: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền của Cơ quan thuế người trúng đấu giá tài sản phải nộp số tiền đã đấu giá trúng vào tài khoản của kho bạc nhà nước tỉnh Bình Ph. Trường hợp người trúng đấu giá không hoàn thành nghĩa vụ mua tài sản thì không được nhận lại số tiền đặt trước (đặt cọc) theo quy định.

Ngày 12/9/2019, Trung tâm đấu giá tài sản Bình Ph đã tổ chức phiên đấu giá quyền sử dụng đất khu dân cư Phú Th (giai đoạn 1) nhóm I bao gồm 04 cụm: BT1, BT2, BT3, LK4 (83 lô), kết quả đấu giá ông Vũ Minh Tâm, số CCCD 022.084.005.911 do Cục CS QLHC về TTXH cấp ngày 04/6/219 là người trúng đấu giá với giá đấu trúng là 186.236.000.000 đồng (một trăm tám mươi sáu tỷ hai trăm ba mươi sáu triệu đồng).

Ngày 23/9/2019, UBND tỉnh Bình Ph ban hành Quyết định số 1979/QĐ-UBND về việc phê duyệt kết quả bán đấu giá quyền sử dụng đất cụm BT1, BT2, BT3, LK4 thuộc khu dân cư Phú Th giai đoạn 1.

Sau khi trúng đấu giá ông Vũ Minh T đã không thực hiện nghĩa vụ tài chính của người trúng đấu giá theo quy định nên ngày 06/1/2020, UBND tỉnh Bình Phước ban hành Quyết định số 14/QĐ-UBND về việc huỷ kết quả bán đấu giá quyền sử dụng đất cụm BT1, BT2, BT3, LK4 thuộc khu dân cư Phú Th đối với ông Vũ Minh T và tiến hành làm các thủ tục để tổ chức đấu giá lại toàn bộ khu dân cư Phú Thịnh, giao cho Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Ph là đơn vị chủ tài sản.

Ngày 13/5/2021, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản Bình Ph đã ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản số 03/HĐ-DVĐGTS với Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Ph nội dung hợp đồng: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Ph nội dung hợp đồng: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Phước giao Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bình Ph được thực hiện việc đấu giá quyền sử dụng đất 360 lô đất ở đô thị riêng lẻ, 01 lô đất thương mại dịch vụ và 01 lô đất bãi xe (trong đó bao gồm cụm BT1, BT2, BT3, LK4 là 83 lô đất) giá khởi điểm: 673.888.152.100 đồng (sáu trăm ba mươi bảy tỷ tám trăm tám mươi tám triệu một trăm năm mươi hai nghìn một trăm đồng).

Từ ngày 07/5/2021 đến ngày 09/5/2021 Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bình P đã tổ chức bán đấu giá tài sản gồm: 362 thửa đất thuộc khu dân cư Phú Th. Kết quả đã tổ chức bán đấu giá thành công toàn bộ các lô đất nêu trên với tổng giá trị là 695.469.853.000 đồng (sáu trăm chín mươi lăm tỷ bốn trăm sáu chín triệu tám trăm năm mươi ba nghìn đồng).

Ngày 04/6/2021, UBND tỉnh Bình Ph đã ban hành Quyết định số 1466/QĐ-UBND về việc phê duyệt kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất 362 thửa đất thuộc khu dân cư Phú Th (giai đoạn 1). Hiện nay toàn bộ 362 thửa đất do Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản Bình Ph tổ chức đấu giá thành công đã được đơn vị chủ tài sản bàn giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các cá nhân, tổ chức trúng đấu giá. (Như vậy, dự án “Khu dân cư Phú Th”, Nguyễn Thanh H và đồng phạm hoàn toàn không có quyền phân phối, chuyển nhượng).

Sau khi bị phát hiện hành vi lừa đảo tại các dự án trước, bị các khách hàng đòi tiền nhưng Nguyễn Thanh H và đồng phạm không có tiền trả, đầu tháng 9/2019, H biết được Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bình Phước sẽ tổ chức phiên đấu giá quyền sử dụng đất khu dân cư Phú Th (giai đoạn 1) gồm 83 lô đất được phân thành 04 cụm BT1, BT2, BT3, LK4. Mặc dù biết không đủ nguồn tài chính, H vẫn bàn bạc với Hoàng Anh V và Lê Văn C sử dụng 03 thửa đất gồm:

Thửa đất số 14, 15, tờ bản đồ số 4, tại xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D do Hoàng Anh V đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Thửa đất số 126, tờ bản đồ số 30, địa chỉ: xã Thanh A, huyện Dầu T, tỉnh Bình D do bà Đinh Thị Thu H đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà H đã ký hợp đồng ủy quyền sử dụng đất cho Nguyễn Thanh H; Thửa đất số 2650, tờ bản đồ số 37, địa chỉ xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D do Nguyễn Thanh H đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

(là các thửa đất thực hiện dự án khu dân cư Happy Home; Happy Home 2; Green City 2 nêu ở trên)

Để thế chấp cho Vũ Minh T sinh năm: 1984, địa chỉ: 95/2/16 Bình L phường 13, quận Bình Th, Thành phố Hồ Chí Minh để vay số tiền 26.659.000.000 đồng (hai mươi sáu tỷ sáu trăm năm mươi chín triệu đồng) với lãi xuất 07% một tháng và được Vũ Minh T đồng ý với điều kiện thế chấp bằng việc ký kết 03 hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ sử dụng đặt cọc tham gia đấu giá. Khi thế chấp T yêu cầu phải làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng các thửa đất cho T và để T đứng tên tham gia đấu giá thay cho Nguyễn Thanh H. Qua bàn bạc Hùng đồng ý theo yêu cầu của T.

Ngày 04/9/2019, Vũ Minh T đã nộp đặt trước số tiền 26.659.000.000 đồng (hai mươi sáu tỷ sáu trăm năm mươi chín triệu đồng) và Nguyễn Thanh H nộp 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản Bình Ph. Tổng số tiền là 27.659.000.000 đồng (hai mươi bảy tỷ sáu trăm năm mươi chín triệu đồng). Ngày 12/9/2019, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản Bình Ph tổ chức phiên đấu giá quyền sử dụng đất khu dân cư Phú Th gồm 83 lô đất được phân thành 04 cụm BT1, BT2, BT3, LK4. Phiên đấu giá có 02 khách hàng tham gia đấu giá là ông Vũ Minh T và bà Khúc Hồng H, địa chỉ: 80 Hà Đ, phường Trung Mỹ T, q 12, thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả đấu giá, ông Vũ Minh T là người trúng đấu giá với giá đấu trúng là: 186.236.000.000 đồng (một trăm tám mươi sáu tỷ hai trăm ba mươi sáu triệu đồng).

Căn cứ vào kết quả đấu giá, ngày 23/9/2019, UBND tỉnh B Phước ban hành Quyết định số 1979/QĐ-UBND về việc phê duyệt kết quả bán đấu giá quyền sử dụng đất cụm BT1, BT2, BT3, LK4 thuộc khu dân cư Phú Th giai đoạn 1 đối với ông Vũ Minh T theo quy định.

Ngày 04/10/2019, Cục thuế tỉnh Bình Ph có Thông báo số 2858/TB-CT về việc thông báo nghĩa vụ tài chính ông Vũ Minh T phải nộp khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất với số tiền 186.236.000.000 đồng (một trăm tám mươi sáu tỷ hai trăm ba mươi sáu triệu đồng). Như vậy, trừ đi số tiền ông Tâm đã đặt cọc là 27.659.000.000 đồng (hai mươi bảy tỷ sáu trăm năm mươi chín triệu đồng) thì ông T và H phải nộp thêm số tiền là 158.577.000.000 đồng (một trăm năm mươi tám tỷ năm trăm bảy mươi bảy triệu đồng) vào kho bạc Nhà nước tỉnh Bình Ph.

Sau khi UBND tỉnh Bình Ph ban hành Quyết định phê duyệt kết quả đấu giá và Cục thuế tỉnh Bình Ph thông báo nghĩa vụ tài chính đối với gồm 83 lô đất được phân thành 04 cụm BT1, BT2, BT3, LK4, mặc dù chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính để mua 83 lô đất khu dân cư Phú Thịnh theo quy định và về thủ tục pháp lý Nguyễn Thanh H không được ông Vũ Minh Tâm ký ủy quyền cho Công ty Thắng L do H làm Tổng Giám đốc được chuyển nhượng 83 lô đất đã Tâm trúng đấu giá. Nguyễn Thanh H làm giả hợp đồng thỏa thuận phân phối số 1001/HĐTTPP/BP ngày 24/9/2019 với nội dung: Vũ Minh T giao cho Công ty Thắng Lợi do Nguyễn Thanh H làm Tổng giám đốc phân phối chính thức 83 lô đất thuộc các cụm BT1, BT2, BT3, LK4 khu dân cư Phú Th và làm giả giấy ủy quyền thu tiền số 1001/GUQTT ngày 24/9/2019 với nội dung: ông Vũ Minh T giao cho Công ty Thắng Lơ thu tiền khách hàng mua đất khu dân cư Phú Thịnh.

Sau khi làm giả 02 tài liệu trên H đưa cho ông Lê Quang L - Giám đốc Công ty CP ĐT và dịch vụ BĐS Đất X Central (sau đây gọi tắt là Công ty Đất X), địa chỉ: Phường Lái Th, thành phố Thuận A, tỉnh Bình D xem, đồng thời H cam kết Công ty Thắng L đủ điều kiện pháp lý chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 83 lô đất khu dân cư Phú Th. Do tin tưởng nên Lê Quang L thống nhất ký hợp đồng dịch vụ môi giới bất động sản số 01/2019/HĐDV/ĐX-TL ngày 04/10/2019 và Phụ lục 1 Chỉ tiêu bán hàng – Phí môi giới – Ký quỹ với Nguyễn Thanh H. Nội dung hợp đồng và phụ lục Công ty Đất X sẽ được hưởng 08% giá trị mỗi lô đất bán được cho Công ty Thắng Lợi nhưng Công ty Đất X phải ký quỹ thiện chí trước cho Công ty Thắng L với số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Ngày 07/10/2019, Công ty Đất X chuyển số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) vào số tài khoản 1071000574411 của Công ty Thắng L, H đã sử dụng số tiền này vào mục đích cá nhân và chi trả cho các cá nhân mua dự không có thật trước đó.

Sau khi ký hợp đồng, từ ngày 02/11/2019 đến ngày 27/11/2019 các nhân viên Công ty Đất X đã môi giới cho Công ty Thắng Lơ đại diện là Nguyễn Thanh H ký hợp đồng bán cho 03 khách hàng mua 04 thửa đất gồm:

- Ngày 02/11/2019, Nguyễn Thanh H đại diện Công ty Thắng L ký hợp đồng cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 01/2019/HĐCKCNQSDĐ với ông Lê Hữu Ng, địa chỉ: 55 Lý Tự Tr, phường Mỹ L, thành phố Long X, tỉnh An G, nội dụng hợp đồng: ông Lê Hữu Ng mua lô đất ký hiệu BT02-01, diện tích 228,6 m2 thuộc dự án khu dân cư Phú Th với giá tiền 3.543.300.000 đồng (ba tỷ năm trăm bốn mươi ba triệu ba trăm nghìn đồng). Đến ngày 18/11/2019, Nguyễn Thanh H tiếp tục đại diện Công ty Thắng L ký hợp đồng cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 02/2019/HDCKCNQSDĐ với ông Lê Hữu N, nội dung hợp đồng: ông Lê Hữu N mua lô đất ký hiệu BT2-02, diện tích 232,7 m2 thuộc dự án khu dân cư Phú Thịnh với giá tiền 3.490.500.000 đồng (ba tỷ bốn trăm chín mươi triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng số tiền Nguyễn Thanh H đã đại diện Công ty Thắng L ký 02 hợp đồng bán đất cho ông Lê Hữu Ng là 7.033.800.000 đồng (bảy triệu không trăm ba mươi ba triệu tám trăm nghìn đồng). Sau khi ký hợp đồng, ông Ngân đã thanh toán trước cho Nguyễn Thanh H: 6.440.119.000 đồng (sáu tỷ bốn trăm bốn mươi triệu một trăm mười chín nghìn đồng), còn lại: 593.681.000 đồng (năm trăm chín mươi ba triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn đồng) chưa thanh toán.

- Ngày 15/11/2019, Nguyễn Thanh H đại diện Công ty Thắng L ký hợp đồng cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 03/2019/HĐCKCNQSDĐ với ông Đỗ Xuân Th, địa chỉ: phường Thới H, Thị xã Bến C, tỉnh Bình D. Nội dung hợp đồng: ông Đỗ Xuân Th mua 01 lô đất ký hiệu LK4-10, diện tích 129,6m2 thuộc dự án khu dân cư Phú Th với tổng số tiền 1.550.000.000 đồng (một tỷ năm trăm năm mươi triệu đồng). Sau khi ký hợp đồng, ông Th đã thanh toán trước cho Nguyễn Thanh H số tiền: 950.000.000 đồng (chín trăm năm mươi triệu đồng), còn lại 550.000.000 đồng (năm trăm năm mươi triệu đồng) chưa thanh toán.

- Ngày 27/11/2019, Nguyễn Thanh H đại diện Công ty Thắng L ký hợp đồng cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 04/2019/HĐCKCNQSDĐ với ông Nguyễn Kim Th, địa chỉ: B811, Cao ốc Saigonres Plaza, Phường 26, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung hợp đồng: ông Nguyễn Kim Th mua 01 lô đất ký hiệu LK4-20, diện tích 120,2 m2 với tổng số tiền 1.803.000.000 đồng (một tỷ tám trăm lẻ ba triệu đồng). Sau khi ký hợp đồng, ông Th đã thanh toán trước cho Nguyễn Thanh H số tiền: 766.650.000 đồng (bảy trăm sáu mươi sáu triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng), còn lại 1.036.350.000 đồng (một tỷ không trăm ba mươi sáu triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) chưa thanh toán.

Tổng số tiền Nguyễn Thanh H thu được từ việc bán 04 lô đất cho ông Ngân, ông Th và ông Th do Công ty Đất X môi giới là: 8.156.769.000 đồng (tám tỷ một trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi chín ngàn đồng).

Toàn bộ 04 Hợp đồng Nguyễn Thanh H đại diện Công ty Thắng L ký với ông Lê Hữu Ng, ông Đỗ Xuân Th và ông Nguyễn Kim Th đều thể hiện cam kết: Về nguồn gốc tài sản là quyền sử dụng đất do ông Vũ Minh T là người trúng đấu giá. Công ty Thắng L do H làm Tổng giám đốc được ông T ủy quyền ký hợp đồng bán đất và thu tiền của khách hàng. Khách hàng phải thanh toán 95% giá trị hợp đồng trong vòng 02 tháng kể từ ngày ký hợp đồng, 5% còn lại sẽ thanh toán khi khách hàng nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không quá 03 tháng kể từ ngày khách hàng ký hợp đồng cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Ngoài ra, trước thời điểm Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản Bình P tổ chức đấu giá dự án Khu dân cư Phú Th (ngày 12/9/2019) thì vào ngày 24/02/2019, Nguyễn Thanh H cùng Hoàng Anh V đã đưa ra thông tin gian dối về việc lô đất ký hiệu nền C, ô số 01 diện tích 290,4 m2 thuộc Khu dân cư Phú Th đã được Công ty Thắng L trúng thầu từ UBND tỉnh Bình Ph để ký hợp đồng thỏa thuận đặt cọc ngày 25/02/2019 với bà Nguyễn Thùy D, sinh năm 1989, HKTT: ấp Ông Th, xã Cây Tr 2, huyện Bàu B, tỉnh Bình D với giá 3.500.000.000 đồng (ba tỷ năm trăm triệu đồng). Bà D đã thanh toán cho Nguyễn Thanh H 02 lần với tổng số tiền 2.700.000.000 đồng (Hai tỷ bảy trăm triệu đồng). Nội dung hợp đồng cam kết đến ngày 11/5/2019 bà D sẽ thanh toán hết số tiền theo hợp đồng đã ký kết và H sẽ giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà D. Đến thời hạn bàn giao đất Nguyễn Thanh H không có đất để bàn giao nên bà Nguyễn Thùy D đã làm đơn tố cáo Nguyễn Thanh H về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Ph.

Tổng số tiền Nguyễn Thanh H thu được từ việc đại diện Công ty Thắng L ký hợp đồng môi giới và ký 05 hợp đồng bán 05 thửa đất thuộc khu dân cư Phú Thịnh cho 04 cá nhân nêu trên là: 11.856.769.000 đồng (mười một tỷ tám trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi chín ngàn đồng). Số tiền này Hùng trả cho Công ty Đất X số tiền chiết khấu 652.541.520đ (sáu trăm năm mươi hai triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn năm trăm hai mươi đồng), số tiền còn lại sử dụng tiêu xài cá nhân và dùng để trả cho một số bị hại đã làm đơn tố cáo H về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi mua đất tại các dự án bất hợp pháp của H tại Bình D.

Danh sách người bị hại, số tiền chiếm đoạt và số tiền đã trả lại như sau:

SINH

SỐ TIỀN ĐÃ

SỐ TIỀN BỊ CÁOKÝ STT

Họ tên KH

NĂM

NỘP

ĐÃ TRẢ

HĐ

Lê Hữu Ng

Nguyễn

1

1962

6,440,119,000

0

(02 lô)

Thanh H

Nguyễn

2

Đỗ Xuân Th

1967

950,000,000

0

Thanh H

Nguyễn

3

Nguyễn Kim Th

1981

766,650,000

0

Thanh H

Nguyễn

4

Nguyễn Thuỳ D

1989

2,700,000,000

0

Thanh H

Lê Quang L

Nguyễn

5

1,000,000,000

0

(Đại diện Cty

Thanh H

Đất X Central)

TỔNG

11,856,769,000

00

Như vậy: Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C, Nguyễn Anh Kh, Châu Lê Minh Z gian dối ký 455 hợp đồng chuyển nhượng 455 lô đất ở 07 dự án khác nhau do các bị cáo tự đặt ra và dự án không có quyền chuyển nhượng và ký 01 hợp đồng môi giới chiếm đoạt tổng số tiền là 162.145.119.000 đồng (một trăm sáu mươi hai tỷ một trăm bốn mươi lăm triệu một trăm mười chin nghìn đồng) của 384 bị hại (trong đó có 05 bị hại mua tại 02 dự án khác nhau gồm: Ngô Văn H (Green City, Green City 2), Hoàng Tuấn A (Green City 2, Green City 3), Phạm Nguyễn D P (Happy Home, Happy Home 2), Vũ Thành Phúc (Green City, Phúc Long City), Lê Hoàng C (Green City 3, Phúc Long City), Nguyễn Thuỳ D (Happy Home 2, Phú Thịnh). Nguyễn Thanh H và đồng phạm đã khắc phục trả lại một phần tiền chiếm đoạt cho 176 bị hại, tổng số tiền là 18.149.360.000 đồng (mười tám tỷ một trăm bốn mươi chín triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng) (số tiền trả thấp nhất 10.000.000 đồng, cao nhất 285.000.000 đồng). Số tiền còn lại chưa khắc phục trả lại cho 384 bị hại là 144.426.509.000 đồng (một trăm bốn mươi tư tỷ bốn trăm hai mươi sáu triệu năm trăm lẻ chín nghìn đồng).

(1) Liên quan đến thửa đất số 14, 15 thuộc tờ bản đồ số 4, diện tích 8.664,1 m2, địa chỉ: tại xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D (các bị cáođặt tên là dự án “Khu dân cư Happy Home” sau đó đổi tên là dự án “Khu nhà ở Thành C 1). Nguyễn Thanh H tham gia cùng với Hoàng Anh Vui, Nguyễn Anh K, Lê Văn C và Châu Lê Minh Z (châu Quốc T) thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 23 bị hại là: 6.099.500.000 đồng (sáu tỷ không tram chín mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng).

Đến nay, Nguyễn Thanh H và đồng phạm khắc phục trả lại cho 14 bị hại: 2.663.300.000 đồng (hai tỷ ba trăm sáu mươi ba triệu ba trăm nghìn đồng), còn lại: 3.510.200.000 đồng (ba tỷ năm trăm mười triệu hai trăm nghìn đồng) chưa trả (kèm theo bảng Phụ lục I).

(2) Liên quan thửa đất số 126, tờ bản đồ số 30, diện tích: 9354,2 m2, địa chỉ: xã Thanh A, huyện Dầu T, tỉnh Bình D (các bị cáotự đặt tên là dự án “Khu dân cư Happy Home 2”). Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Nguyễn Anh K, Lê Văn C và Châu Lê Minh Z (châu Quốc T) thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt của 11 bị hại, chiếm đoạt: 14.035.750.000 đồng (mười bốn tỷ không trăm ba mươi lăm triệu đồng).

Đến nay, Nguyễn Thanh H cùng đồng phạm khắc phục trả lại cho 04 bị hại: 1.127.250.000 đồng (một tỷ một trăm hai mươi bảy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), còn lại: 12.907.750.000 đồng (mười hai tỷ chín trăm lẻ bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) chưa trả (kèm theo bảng Phụ lục II) .

(3) Liên quan đến thửa đất số 411, tờ bản đồ số 36, diện tích: 12.152,9 m2, địa chỉ: xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D (các bị cáotự đặt tên là dự án “Khu dân cư Green City 1”, sau đó đổi tên thành dự án “Khu nhà ở Phúc Long 1”). Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Nguyễn Anh K, Lê Văn C thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt của cho 63 bị hại, chiếm đoạt tổng: 21.734.050.000 đồng (hai mươi mốt tỷ bảy trăm ba mươi tư triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

Đến nay, Nguyễn Thanh H cùng đồng phạm đã khắc phục trả lại cho 46 bị hại: 4.706.260.000 đồng (bốn tỷ bảy trăm lẻ sáu triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng), còn lại: 17.053.390.000 đồng (mười bảy tỷ không trăm năm ba triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng) chưa trả (kèm theo bảng Phụ lục III).

(4) Liên quan đến thửa đất số 2650, tờ bản đồ số 37, diện tích 28.833,1 m2, đại chỉ: xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D (các bị cáotự đặt tên là dự án “Khu dân cư Green City 2”, sau đó đổi tên thành “Khu nhà ở Phúc Long 2”). Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Nguyễn Anh K, Lê Văn C tham gia thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 134 bị hại, chiếm đoạt: 52.043.000.000 đồng (năm mươi hai tỷ không trăm bốn mươi ba triệu triệu đồng).

Đến nay, Nguyễn Thanh H cùng đồng phạm đã khắc phục trả lại cho 58 bị hại: 6.688.450.000 đồng (sáu tỷ sáu tám tám triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng), còn lại: 45.636.300.000 đồng (bốn mươi lăm tỷ sáu trăm ba mươi sáu triệu ba trăm nghìn đồng) chưa trả (kèm theo bảng Phụ lục IV).

(5) Liên quan đến thửa đất số 66, 67, tờ bản đồ số 37, diện tích: 30,306 m2, địa chỉ: xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D (các bị cáotự đặt tên là dự án “Khu dân cư Green City 3”, sau đó đổi tên thành “Khu nhà ở Phúc Long 2”). Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C tham gia thực hiện hành vi lừa đảo của 85 bị hại, chiếm đoạt tổng là: 36.654.300.000 đồng (ba mươi sáu tỷ sáu trăm năm mươi tư triệu ba trăm nghìn đồng).

Đến nay, Nguyễn Thanh H và đồng phạm đã khắc phục trả lại cho 34 bị hại: 2.139.100.000 đồng (hai tỷ một trăm ba mươi chín triệu một trăm nghìn đồng), còn lại: 34.564.600.000 đồng (ba mươi tư tỷ năm trăm sáu tư triệu sáu trăm nghìn đồng) chưa trả (kèm theo bảng Phụ lục V).

(6) Liên quan đến thửa đất số 06, tờ bản đồ số 57, diện tích: 15.897 m2, địa chỉ; xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D (các bị cáo tự đặt tên là dự án “Khu dân cư Phúc Long City”, sau đó đổi tên thành “Khu nhà ở Thành công 2”). Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C tham gia thực hiện hành vi lừa đảo của 69 bị hại, chiếm đoạt tổng cộng là: 19.722.500.000 đồng (mười chín tỷ bảy trăm hai mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Đến nay, Nguyễn Thanh H cùng đồng phạm đã khắc phục trả lại cho 20 bị hại tổng là: 825.000.000 đồng (tám trăm hai mươi lăm triệu đồng), còn lại: 18.897.500.000 đồng (mười tám tỷ tám trăm chín mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng) chưa trả (kèm theo bảng Phụ lục VI).

(7) Liên quan đất khu dân cư Phú Th (giai đoạn 1), phường Tân Ph, thành phố Đồng X. Chủ tài sản: Sở Xây dựng tỉnh Bình Ph. Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V tham gia thực hiện hành vi lừa đảo của 05 bị hại, chiếm đoạt tổng số tiền: 11.856.769.000 đồng (mười một tỷ tám trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi chín nghìn đồng).

Đến nay, Nguyễn Thanh H cùng đồng phạm chưa khắc phục trả lại cho cho các bị hại (kèm theo bảng Phụ lục VII) .

Ngoài các bị hại nêu trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định có 54 trường hợp cá nhân thể hiện thông tin mua đất các dự án không có thật tại tỉnh Bình D nhưng không có đơn tố giác đề nghị xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành thông báo tìm bị hại trong vụ án trên phương tiện thông tin đại chúng, uỷ thác điều tra, xác minh, triệu tập ghi lời khai, kết quả: 35 trường hợp xác minh không có mặt địa phương; 01 trường hợp xác minh đã chết, các trường hợp còn lại do không đủ thông tin lai lịch cá nhân để xác minh hoặc đã triệu tập ghi lời khai nhưng không đến làm việc theo yêu cầu nên không có căn cứ để xử lý (kèm theo bảng Phụ lục VIII).

Trong đó:

- Tại dự án “Khu dân cư Happy Home”: 09 cá nhân.

- Tại dự án “Khu dân cư Happy Home 2”: 01 cá nhân

- Tại dự án “Khu dân cư Green City 1”: 18 cá nhân

- Tại dự án “Khu dân cư Green City 2”: 16 cá nhân

- Tại dự án “Khu dân cư Green City 3”: 06 cá nhân

- Tại dự án “Khu dân cư Phúc Long City”: 04 cá nhân.

Ngày 01/4/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ban hành công văn số 192, 193 đề nghị báo Pháp luật Việt Nam và Đài tiếng nói Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh đăng 03 kỳ báo liên tiếp và phát sóng 03 lần liên tục thông báo tìm bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bảo đảm theo quy định. Ngày 03, 04, 05/4/2020 và ngày 20, 21, 22/4/2020 Báo Pháp luật Việt Nam và Đài tiếng nói Việt Nam đã đăng thông báo, phát sóng theo yêu cầu.

Danh sác các cá nhân có thông tin mua đất nhưng không có tố giác:

ST

HỌ

SỐ TIỀN

TIỀN TRẢ

NGƯỜI

SN

HKTT T

TÊN

NỘP

LẠI

KÝ KẾT

An Linh,

Lê Thị

198

Hoàng Anh

1

Phú G,

210,400,000

S

4

V

Bình D

Phước L,

Lê Văn 198

Hoàng Anh

2

Phước L,

630,000,000

703,100,000

Tr

3

V

Bạc L

Trần

199 Hiến S, Đô

Hoàng Anh

3

346,500,000

465,000,000

Thị T

1

L, Nghệ A

V

Thới H,

Trần

199

Hoàng Anh

4

Bến C,

315,000,000

315,000,000

Thị H

2

V

Bình D

Thạnh Th,

Nguyễn

5

Vĩnh Th,

100,000,000

Văn D

Cần T

Đào

Sơn T,

198

Hoàng Anh

6

Minh

Hương S,

330,000,000

352,500,000

0

V

Luận

Hà T

Hồng L,

Lê Thị

198

Hoàng Anh

7

Lộc H, Hà 230,000,000

244,400,000

Táo

8

V

T

Thọ L, Thọ

Phạm

198

Hoàng Anh

8

X, Thanh

330,000,000

373,000,000

Thị Huệ

6

V

H

Nguyễn

Nhơn Tr,

199

Hoàng Anh

9

Thị

310,000,000

333,100,000

Nhơn B,

2

V

Bích T

Trà Ô,

Vĩnh L

Lê

Bình Đ,

199

Hoàng Anh 10

Trường

Bình H,

350,000,000

370,000,000

1

V

G

Thuận A

Tịnh H,

Nguyễn 198

Hoàng Anh 11

Sơn T,

270,000,000

277,425,000

L

8

V

Quãng Ng

Hiệp Th,

Phạm

198

Thủ D

Hoàng Anh 12

250,000,000

320,000,000

Thế A

1

Một, Bình

V

D

Nhân S,

Nguyễn 199

Hoàng Anh 13

Đô L,

209,000,000

220,000,000

Thị Th

3

V

Nghệ A

Tổ 6,

Phước A,

Nguyễn 199

Đá B,

Hoàng Anh 14

290,000,000

298,000,000

Ngọc L

0

Châu Đ,

V

Bà Rịa

Vũng T

Tổ 8, Quế

Nguyễn 196

Hoàng Anh 15

Ph, Quế S, 240,000,000

240,130,000

Th

5

V

Quảng N

Thôn 3, xã

Bùi Thị 198

Hoàng Anh 16

Đã T, Đạ

350,000,000

350,000,000

Tuyết D

2

V

H, Lâm Đ

Trần

Mỹ Ph,

199

Hoàng Anh 17 Thị Thu

Bến C,

1

V

Th

Bình D

Xã Tân Ph,

Lê

huyện

199 18

Hoàng

Thanh B,

3

G

tỉnh Đồng

Th

15 đường

số 4,

Lê

198 19

phường 10, 310,000,000

272,000,000

Thanh T

7

Tân B, TP.

HCM

Thụy Tr,

Đoàn

198

Hoàng Anh 20

Thái T,

239,000,000

50,000,000

Văn Th

4

V

Thái B

Lê Văn 196 Bình L, Hà

Hoàng Anh 21

299,500,000

299,500,000

M

9

N

V

Cẩm V,

Lê Thị

198

Hoàng Anh 22

Cẩm Th,

303,000,000

303,000,000

H

7

V

Thanh H

Cẩm V,

Lê Xuân 197

Hoàng Anh 23

Cẩm T,

301,500,000

301,500,000

H

6

V

Thanh H

Tân Đông

Lê Văn 198

Hoàng Anh 24

H, Dĩ A,

328,000,000

340,300,000

H

9

V

Bình D

Vũ Thị

D

An D,

195

Hoàng Anh 25

(Nguyễ

Quỳnh Ph, 338,000,000

429,600,000

6

V

n Tiến

Nghệ A

H)

Cao

Văn T

Diễn L,

199

Hoàng Anh 26

(Cao

Diễn Ch,

310,000,000

310,000,000

3

V

Trường

Nghệ A

G)

Tp. Quy

Trần

199

Hoàng Anh 27

Nh, Bình

310,000,000

310,000,000

Minh H

2

V

Đ

Nguyễn

199 Kỳ T, Kỳ

Hoàng Anh 28

Quang

384,000,000

401,300,000

0

A, Hà T

V

B

xã Phúc

Chu

198

Th, Yên

Hoàng Anh 29

299,500,000

307,750,000

Văn Đ

4

Th, Nghệ

V

A

Quảng T,

Nguyễn 198

Hoàng Anh 30

Quảng Tr, 210,000,000

230,000,000

Văn Kh

9

V

Quảng B

Tân D,

Đặng

198

Hoàng Anh 31

Đầm D, Cà 330,000,000

360,000,000

Mộng C

6

V

M

Nguyễn

Tân Đ,

198

Hoàng Anh 32

Trường

Bến C,

203,000,000

203,000,000

7

V

Kh

Bình D

Lê Đình 197 Cẩm D, C

Hoàng Anh 33

911,000,000

964,800,000

Th

9

X, Hà T

V

Phạm

199

Ea H, Ea 34

243000000

Thị Th

0

H'L, Đắk L

Nguyễn

Bình Ch,

198

Hoàng Anh 35

Thanh

Thủ Đ, Tp. 344,000,000

378,000,000

6

V

M

HCM

Phùng

198

Đ Th, Ba

Hoàng Anh 36

Quốc

252,000,000

252,000,000

7

V, Hà Nội

V

Th

Nguyễn

Bình Ch,

199

Hoàng Anh 37

Minh

Thủ Đ, Tp. 923,000,000

973,000,000

1

V

Th

HCM

Nguyễn

199

Đức P,

Hoàng Anh 38

Thanh

0

Quãng Ng

V

Q

Khu phố

Đồng A1,

Dương 198

Hoàng Anh 39

BÌnh H,

Phi B

8

V

Thuận A,

Bình D

Cẩm L,

Bùi Thị 198

Hoàng Anh 40

Cẩm X, Hà

L

4

V

T

Nguyễn 199 Đại S, Đô

Nguyễn 41

171,400,000

161,400,000

Khắc H

2

L, Nghệ A

Anh K

Nguyễn

198

Nguyễn 42 Lê Vũ L

Ph, huyện

279,000,000

Thu mua lại

3

Anh K

U M, Cà M

25/69/3,

Bùi Thị 197 Bùi Quang

Nguyễn 43

193,000,000

193,000,000

Th

6

L, Gò V,

Thanh H

TP.HCM

Hồ Văn 198 Quỳnh L,

Nguyễn 44

279,000,000

289,870,000

M

7

Nghệ A

Anh K

Thanh L,

Lô

198

Nguyễn 45

Như X,

288,000,000

308,000,000

Minh N

1

Anh K

Thanh H

Hương Th,

Nguyễn 198

Nguyễn 46

Lệ Th,

275,000,000

295,000,000

Thị N

8

Anh K

Quảng B

Liên Ph,

Nguyễn 198 Tp. Hưng

Nguyễn 47

275,000,000

337,000,000

Thị T

0

Y, tỉnh

Anh K

Hưng Y

KP 4, Mỹ

Nguyễn 196

Nguyễn 48

Ph, Bến C, 479,500,000

538,450,000

Thị M

0

Anh K

Bình D

Tuy L,

Lê Văn 198

Nguyễn 49

Hậu L,

279,000,000

290,000,000

T

6

Thanh H

Thanh H

Thụy

Nguyễn

197 Hồng, Thái

Hoàng Anh 50

Duy

190,000,000

190,000,000

7

Thụy, Thái

Vui

Nhật

Bình

Phường

Hoàng

Hoàng Anh 51

Tân B, Dĩ

Không rõ

Không rõ

Văn V

2

V

A, BD

Hưng Tr,

Đinh

198 52

Hưng Ng,

Không rõ

Không rõ

Không rõ

Bạc D

2

Nghệ A

Xuân L,

Nguyễn 198 53

Can L, Hà

Không rõ

Không rõ

Không rõ

Văn D

4

T

21/6L

Đông L,

Phạm

197

Nguyễn 54

Bà Đ, Hóc 952,500,000

983500000

Kiều H

6

Thanh H

M, Tp.

HCM

14,707,400,0

15,687,025,00

TỔNG

0

0

Đối với tiền chiếm đoạt được, Nguyễn Thanh H là người quản lý sử dụng để làm chi phí hoạt động trong công ty (lương, thưởng cho nhân viên kinh doanh, trang thiết bị, chi phí khác …), sử dụng vào việc tiếp tục đặt cọc mua đất để phân lô, chia nhau tiêu xài (dưới hình thức trả lương, thưởng, chiết khấu … cho thành viên công ty) và sử dụng vào mục đích cá nhân khác mua xắm phương tiện, tiêu xài cá nhân … . Sau khi bị phát hiện, bị tố giác thì Nguyễn Thanh H và đồng phạm sử dụng một phần tiền để khắc phục trả lại cho bị hại như nêu trên. Ngoài ra, H và đồng phạm tiến hành cầm cố, chuyển nhượng chính các thửa đất đã làm dự án lấy tiền để tiếp tục đầu tư, kinh doanh, chia nhau tiêu xài, chi phí làm dự án và một phần trả lại cho những bị hại.

- Kết luận giám định.

Các tài liệu thu giữ như: hợp đồng, phiếu thu, tài liệu khác liên quan đến việc mua bán có chữ ký, chữ viết của các bị cáovà của các bị hại; các con dấu, hợp đồng thỏa thuận phân phối, giấy uỷ quyền … trong vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành giám định, xác định là chữ viết, chữ ký, dấu vân tay của các bị cáovà các bị hại trong vụ án; là con dấu của các công ty do Nguyễn Thanh H và đồng bọn lập ra để thực hiện hành vi phạm tội… (kèm theo bảng Phụ lục IX).

- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật.

Là tài liệu chứng cứ liên quan đến hành vi phạm tội của các bị can, lên quan đến bị hại bị hại, người liên quan (Bản kê vật chứng kèm theo).

(1) Đối với tài sản là quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 411, tờ bản đồ số 36, diện tích: 12.152,9 m2 thuộc xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D do Nguyễn Thanh H đứng tên giấy chứng nhận QSD đất.

Sau khi thu tiền của các khách hàng mua nền đất tại các dự án trước thì khoảng tháng 7 năm 2018, H, V, C đã thỏa thuận tiến hành đặt cọc mua thửa đất số 411, tờ bản đồ số 36, diện tích: 12.152,9 m2 thuộc xã Lai Hưng, huyện Bàu B, tỉnh Bình D của ông Nguyễn Đình Th (sinh năm 1961, HKTT: xã Long Ng, huyện Bàu B, tỉnh Bình D) với giá chuyển nhượng là 8,5 tỷ đồng.

Ngày 23/7/2018, ông Nguyễn Đình Th ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên cho Nguyễn Thanh H tại Văn phòng công chứng Bàu B, tỉnh Bình D và ngày 05/9/2018 được Sở Tài nguyên và Môi trưởng tỉnh Bình D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Nguyễn Thanh H. Nguồn gốc số tiền mua đất trên là tiền của các khách hàng từ việc phân lô bán cho khách hàng tại các dự án.

Sau khi triển khai bán nền đất cho các khách hàng tại dự án được phân lô trên khu đất trên, đến hạn giao đất không bàn giao đất và giấy chứng nhận QSD đất cho khách hàng, thì các bị cáoH, V, C đã bàn bạc thống nhất vay số tiền 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng) của ông Nguyễn Văn Bản (địa chỉ: phường Dĩ A, thành phố Dĩ A, tỉnh Bình D) với điều kiện đảm bảo bằng việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng QSD đất đối với thửa đất trên cho ông B. Việc vay tiền thì ông B và H có làm giấy vay tiền ngày 07/01/2020 và ký hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ đối với thửa đất số 411, tờ bản đồ số 36, diện tích: 12.152,9 m2 thuộc xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D tại Văn phòng Công chứng Dĩ A, tỉnh Bình D.

Quá trình xác minh tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Bàu B, tỉnh Bình D hiện tại thửa đất số 411, tờ bản đồ số 36, diện tích: 12.152,9 m2 thuộc xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D hiện tại do Nguyễn Thanh H đứng tên giấy chứng nhận QSD đất.

Ngày 14/6/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D đã ra lệnh kê biên tài sản số 04 đối với tài sản là là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 411, tờ bản đồ số 36, diện tích: 12.152,9 m2 thuộc xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D.

(2) Đối với tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 06, tờ bản đồ số 57, diện tích: 15.897 m2 tại xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D do Lê Văn C đứng tên giấy chứng nhận QSD đất.

Sau khi thu tiền của các khách hàng mua nền đất tại các dự án khác thì tháng 10/2018, H, V, C thống nhất đặt cọc mua thửa đất số 06, tờ bản đồ số 57, diện tích: 15.897 m2 tại xã Phước H, huyện Phú G tỉnh Bình D của bà Võ Thị Kim Ph (sinh năm: 1979, HKTT: Tổ 15, khu phố 1, phường Mỹ Ph, thị xã Bến C, tỉnh Bình D) với giá trị mua bán là: 6.480.000.0000 đồng.

Ngày 07/12/2018, bà Võ Thị Kim Ph ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Lê Văn C và ngày 10/12/2018 tiếp tục ký Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Lê Văn C, nội dung thay đổi: giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 50.000.000 đồng sang giá chuyển nhượng là 6.480.000.0000 đồng và ngày 24/12/2018 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Phú G đăng ký biến động điều chỉnh sang tên cho Lê Văn C. Nguồn gốc số tiền mua đất trên là tiền của các khách hàng bán được từ việc phân lô bán cho khách hàng tại các dự án.

Sau khi triển khai bán nền đất cho các khách hàng tại dự án Phúc L city được phân lô trên khu đất trên, đến hạn giao đất không bàn giao đất và giấy chứng nhận QSDĐ cho khách hàng. Để có tiền duy trì hoạt động công ty và trả một phần cho các bị hại thì bị cáo H, V, C đã bàn bạc thống nhất vay số tiền 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng) của ông Lê Minh H (địa chỉ: phường Vĩnh T, thành phố Tân U, tỉnh Bình D) với điều kiện thế chấp bằng việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng QSD đất thửa đất số 06, tờ bản đồ số 37, diện tích: 15.897 m2 thuộc xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D cho ông H.

Ngày 19/7/2019, Lê Văn C ký giấy vay tiền với ông Lê Minh H đồng thời ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thể hiện nội dung chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Lê Minh H tại Văn phòng công chứng Thành phố M, Thủ Dầu M, tỉnh Bình D.

Quá trình xác minh tại Chi nhánh VPĐK Đất đai huyện Phú G, tỉnh Bình D hiện tại thửa đất số 06, tờ bản đồ số 57, diện tích: 15.897 m2 tại xã Phước Hòa, huyện Phú G, tỉnh Bình D hiện tại do Lê Văn C đứng tên giấy chứng nhận QSD đất.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D đã thu giữ giấy chứng nhận QSD đất trên và và ngày 14/6/2021 ra lệnh kê biên tài sản số 02 đối tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 06, tờ bản đồ số 57, diện tích: 15.897 m2 tại xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D để xử lý theo quy định.

(3) Đối với tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 66, 67, tờ bản đồ số 37, diện tích: 30,306 m2, địa chỉ: xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D do ông Ngô Sơn Ch đứng tên giấy chứng nhận đăng ký.

Sau khi thu tiền của các khách hàng mua nền đất tại các dự án khác thì 5/11/2018, H,V, C thống nhất đặt cọc mua thửa đất số 66, 67, tờ bản đồ số 37, diện tích: 30,306 m2, địa chỉ: xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D với giá trị mua thửa đất trên là: 24.700.000.000 đồng (hai mươi bốn tỷ bảy trăm triệu đồng) do hộ ông Ngô Sơn Ch đứng tên giấy chứng nhận đăng ký quyền sử dụng đất.

Ngày 15/3/2019, Ngô Sơn Châu đã chuyển nhượng QSD đất cho Nguyễn Thanh Hùng nhưng không ký hợp đồng chuyển nhượng mà chỉ làm hợp đồng ủy quyền toàn quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên cho Nguyễn Thanh Hùng.

Sau khi triển khai bán nền đất cho các khách hàng tại dự án Green City 3 được phân lô trên khu đất trên, đến hạn giao đất không bàn giao đất và giấy chứng nhận QSD đất cho khách hàng. Để có tiền duy trì hoạt động công ty và trả một phần cho các bị hại các bị cáo đã bàn bạc thống nhất vay tiền, cụ thể ngày 5 tháng 8 năm 2019, Nguyễn Thanh Hùng vay số tiền 06 tỷ đồng và thế chấp bằng việc ký ký hợp đồng ủy quyền cho ông Nguyễn Chí C (sinh năm 1956, HKTT: phường Hiệp Th, thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D). Thửa đất số 66, 67, tờ bản đồ 37, địa chỉ: xã Lai H, huyện Bàu b, Bình D tại Văn phòng công chứng Bàu B.

Ngày 02/01/2020, Nguyễn Thanh H tiếp tục vay tiền 10.000.000.000 đồng của ông Trần Văn Q (sinh năm: 1984, địa chỉ: Phú L, Can L, Hà T và bà Nguyễn Thị Ch (sinh năm 1974, HKTH: Khu phố 4, phường Thới H, thị xã Bến C, tỉnh Bình D) và đề nghị ông Nguyễn Chí C ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất đối với thửa đất số 66, 67, tờ bản đồ số 37, diện tích: 30,306 m2, địa chỉ: xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D cho ông Trần Văn Q, bà Nguyễn Thị C để bảo đảm số tiền vay.

Quá trình điều tra, xác định nguồn gốc số tiền mua đất trên là tiền của các khách hàng do các đối tượng chiếm đoạt từ việc phân lô bán cho khách hàng tại các dự án, hiện tại thửa đất trên do ông Ngô Sơn Ch đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D đã thu giữ giấy chứng nhận QSD đất trên và ngày 14/6/2021 ra lệnh kê biên tài sản số 03 đối với tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 66, 67, tờ bản đồ số 37, diện tích: 30,306 m2, địa chỉ: xã Lai H huyện Bàu B, tỉnh Bình D để xử lý theo quy định.

(4) Đối với tài sản là quyền sử dụng đất tại các thửa đất:

- Thửa đất số 14, 15 thuộc tờ bản đồ số 4, diện tích 8.664,1 m2 tại xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D;

- Thửa đất số 126, tờ bản đồ số 30, diện tích: 9354,2 m2 thuộc xã Thanh A, huyện Dầu T, tỉnh Bình D;

- Thửa đất số 2650, tờ bản đồ số 37, diện tích: 28.833,1 m2 thuộc xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D cho ông Vũ Minh T, sinh năm: 1984, HKTT: 95/2/16 Bình L, p13, quận Bình Th, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tháng 8 năm 2019, Nguyễn Thanh H cùng Hoàng Anh V ký hợp đồng chuyển nhượng QSD đất cho ông Vũ Minh T (như nội dung đã nêu tại mục (7) liên quan dự án Phú Th). Riêng thửa đất số 126, tờ bản đồ số 30, diện tích: 9354,2 m2 thuộc xã Thanh A, huyện Dầu T, tỉnh Bình D do bà Đinh Thị Thu H đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ nên vào ngày 13/8/2019, Nguyễn Thanh H nhờ bà Đinh Thị Thu H ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và ngày 02/10/2019 ký hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho ông Vũ Minh T, nội dung sửa đổi, bổ sung: diện tích đất thay đổi sau khi đo đạc thực tế giảm còn 9.194 m2 và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình D cấp giấy ngày 27 tháng 11 năm 2019 cho ông Vũ Minh T và các thửa đất trên ông Vũ Minh T đã được đăng ký quyền sử dụng đất. Đây là tài sản do các Nguyễn Thanh H và đồng phạm có được từ nguồn tiền do phạm tội mà có, tuy nhiên hiện tại tài sản này đã được chuyển nhượng cho người khác và được cơ quan có thẩm quyền đăng ký. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D đã đề nghị ngăn chặn giao dịch đối với tài sản trên. Ngày 18 tháng 01 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D đã ra Quyết định tạm giữ đồ vật tài liệu liên quan là 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Vũ Minh T tại các thửa đất trên. Kết quả tống đạt, ông Vũ Minh T không cung cấp 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra và trình bày với lý do đã chuyển nhượng 03 thửa đất trên cho người khác (không rõ thông tin lai lịch và địa chỉ liên hệ) bằng việc viết tay và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bên mua. Để tránh chuyển dịch tài sản và đảm bảo thi hành án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D tiếp tục gửi Công văn số 2943/CSKT-Đ4 ngày 25 tháng 10 năm 2022 đến Cơ quan quản lý đất đai và chính quyền địa phương biết về việc thông báo ra Quyết định tạm giữ đồ vật, tài liệu trên và đề nghị tạm ngừng mọi giao dịch liên quan các thửa đất trên.

Ngày 23/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D đã ra lệnh kê biên số 01, 02, 03 đối với 03 thửa đất trên để bảo đảm thi hành án.

Đối với số tiền cho vay 26.659.000.000 đồng (hai mươi sáu tỷ sáu trăm năm mươi chín triệu đồng) của ông Vũ Minh T bằng việc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại 03 thửa đất thực hiện dự án trên. Để đảm bảo thêm khoản vay, Vũ Minh T không chuyển tiền cho Nguyễn Thanh H, Vũ Minh T yêu cầu được trực tiếp sử dụng tiền để đăng ký đấu giá dự án Khu dân cư Phú Th và đứng tên dự án sau khi trúng đấu giá để cho công ty Thắng L của Nguyễn Thanh H bán thì H đồng ý. Ngoài số tiền trên, Nguyễn Thanh H trước đó đã nộp 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng, tiền chiếm đoạt của các bị hại) cho trung tâm đấu giá tài sản tỉnh Bình Ph để để đăng ký đấu giá nhưng sau đó điều chỉnh lại tên người nộp là Vũ Minh T.

Ngày 12/9/2019, ông Vũ Minh T trúng đấu giá tài sản nhóm I gồm 04 cụm là BT1; BT2; BT3; LK4 với giá trả là 186.236.000.000 đồng (một trăm tám mươi sáu tỷ hai trăm ba mươi sáu triệu đồng) tại dự án khu dân cư Phú Th. Số tiền 27.659.000.000 đồng (hai mươi bảy tỷ sáu trăm năm mươi chín triệu đồng) được chuyển thành tiền đặt cọc để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán số tiền mua tài sản trúng đấu giá của ông Vũ Minh T được Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản đã chuyển vào Kho bạc Nhà nước tỉnh Bình Ph ngay sau khi khách hàng trúng đấu giá. Nhưng sau khi trúng đấu giá, Nguyễn Thanh H không có tiền tiếp tục nộp để mua dự án nên ngày 06/01/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Ph có Quyết định số 14/QĐ-UBND về việc hủy kết quả bán đấu giá của ông Vũ Minh T với lý do ông Tâm không nộp tiền mua tài sản theo quy định nên số tiền 27.659.000.000 đồng (hai mươi bảy tỷ sáu trăm năm mươi chín triệu đồng) đã được tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước với lý do ông T không nộp tiền mua tài sản theo quy định.

(5) Đối với tài sản là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mercedes Benz E200, BKS: 61A -555.69 do Nguyễn Thanh H đứng tên giấy chứng nhận đăng ký.

Sau khi thu tiền tại các dự án, Nguyễn Thanh H đã sử dụng số tiền chiếm đoạt để mua và đăng ký xe ô tô nhãn hiệu Mercedes Benz E200, BKS: 61A -555.69 do Nguyễn Thanh H đứng tên.

Ngày 06/9/2019, Nguyễn Thanh H đã vay tiền và thế chấp chiếc xe trên cho ông Lê Tấn H (sinh năm: 1986, HKTT: Khu phố 5, phường Vĩnh T, thị xã Tân U, tỉnh Bình D) với số tiền: 1.200.000.000 đồng (một tỷ hai trăm triệu đồng). Kết quả tra cứu xe tại cơ quan đăng ký xe vẫn do Nguyễn Thanh H đứng tên giấy chứng nhận đăng ký.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D đã thu giữ tài sản trên để xử lý theo quy định.

(6) Đối với số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) thu giữ của ông Nguyễn Gia Cử, SN: 1965, HKTT: Tiến Th, Đồng X, Bình Ph.

Quá trình điều tra xác định năm 2018, Nguyễn Thanh H đã sử dụng số tiền chiếm đoạt của các bị hại để góp vốn số tiền 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng) tham gia hợp đồng kinh tế mua bán đất với ông Cử. Do quá trình không thực hiện được nên ông Cử đã trả lại số tiền 4.700.000.000 đồng (bốn tỷ bảy trăm triệu đồng). Còn số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), ông Cử đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D để xử lý theo quy định.

(7) Đối với số tiền 3.424.000.000 đồng (ba tỷ bốn trăm hai mươi tư triệu đồng) được thu giữ trong vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Thủ Dầu M, tỉnh Bình D.

Quá trình điều tra xác định từ đầu năm 2019, Nguyễn Thanh H đã sử dụng số tiền chiếm đoạt của các bị hại để đưa số tiền 19.200.000.000 đồng (mười chín tỷ hai trăm triệu đồng) cho đối tượng Lê Công B (sinh năm 1996, HKTT: phường Hòa L, thị xã Bến C, tỉnh Bình D) để “chạy” xin chủ trương phê duyệt các dự án của Công ty Bình Dương City Land tại tỉnh Bình D và “chạy” để xin tham gia đấu giá dự án khu dân cư Phú Thịnh, địa chỉ: phường Tân P, Thành phố Đồng X, tỉnh Bình Ph. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 36 ngày 04/2/2021 và bắt bị cáoLê Công Bằng về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi được số tiền 3.424.000.000 đồng (ba tỷ bốn trăm hai mươi tư triệu đồng), số tiền trên là vật chứng của vụ án. Đến nay Toà án nhân dân tỉnh Bình D đang thụ lý xét xử vụ án.

(8) Đối với số tiền 652.541.520 đồng (sáu trăm năm mươi hai triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn năm trăm hai mươi đồng).

Quá trình điều tra xác định là tiền có nguồn gốc do phạm tội mà có, sau khi Nguyễn Thanh H cùng đồng phạm thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tại dự án khu dân cư Phú Th (gia đoạn 1) H trả cho Công ty DXMD số tiền chiết khấu trên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 141/2023/HS-ST ngày 01/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình D đã quyết định:

Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

1. Về tội danh, hình phạt:

1.1 Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C, Nguyễn Anh K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1.2 Về hình phạt:

1.2.1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, g khoản 1 Điều 52, Điều 39, Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2020.

1.2.2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Anh V 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2020.

1.2.3. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58, Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn C 18 (mươi tám) năm tù. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2022/HS-ST ngày 15/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Ch, tỉnh Tây N. Buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án là 19 (mười chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2022.

1.2.4. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh K 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Ngoài ra bản án còn quyết định về hình phạt đối với bị cáo Châu Lê Minh Z, trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định các bị cáo kháng cáo như sau: Bị cáo Nguyễn Thanh H cho rằng ý thức không muốn chiếm đoạt tài sản của bị hại, tài sản hiện còn 6 thửa đất trị giá khoảng 200 tỷ đủ trả cho bị hại, chưa áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tích cực giúp cơ quan điều tra phát hiện tội phạm, trong quá trình công tác tại lực lượng vũ trang được tặng thưởng nhiều giấy khen, bằng khen và ông bà nội được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Hoàng Anh V cho rằng không có ý thức chiếm đoạt tài sản của bị hại, tài sản kê biên đủ trả cho bị hại, bị cáo chỉ là đồng phạm giúp sức, tích cực trả một phần thiệt hại cho bị hại, cha bị cáo được tặng thưởng nhiều Huân chương kháng chiến để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Lê Văn C cho rằng tài sản kê biên đủ trả cho bị hại, bị cáo chỉ là đồng phạm giúp sức, tích cực trả một phần thiệt hại cho bị hại để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Nguyễn Anh K cho rằng Tòa án chưa phân chia tỷ lệ để các bị cáo bồi thường và chưa xem xét ý chí nhận thức của bị cáo trong vụ án để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị hại ông Nguyễn Văn A kháng cáo đề nghị sửa phần trách nhiệm dân sự liên quan đến ông Lê Tấn H, Lê Minh H, Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị Ch tách thành vụ án dân sự khác. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Khúc Hồng H kháng cáo yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh H phải trả 26.659.000.000 đồng tiền vay cho vợ chồng bà Hoa.

Tại phiên tòa các bị cáo và người đại diện theo ủy quyền của bà H giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố các bị cáo H, C, V và K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ; trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khắc phục một phần hậu quả và tài sản là quyền sử dụng đất, tiền, xe… của các bị cáo đã kê biên để bồi thường cho bị hại; hoàn cảnh gia đình của các bị cáo thật sự khó khăn cha mẹ già, đang nuôi con nhỏ; cha mẹ tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng thưởng Huân chương. Tuy nhiên, các bị cáo phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, thiệt hại tài sản đặc biệt lớn; Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự và xử phạt mức án cho từng bị cáo là phù hợp, không có cơ sở để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Xét kháng cáo của ông A yêu cầu tách phần trách nhiệm dân sự của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan của ông Lê Tấn H, Lê Minh H, Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị C để giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác là không phù hợp, vì các bị cáo vay tiền sử dụng vào mục đích chuyển nhượng đất thực hiện dự án để chiếm đoạt tài sản, nếu không giải quyết trong vụ án này là không phù hợp. Xét kháng cáo của bà H thì thấy ông T (chồng bà H) cho bị cáo H vay 26.659.000.000 đồng, bị cáo Hùng thế chấp 3 thửa đất làm dự án cho ông T, sau đó sang tên cho ông T là giả cách nhằm thực hiện hợp đồng vay tài sản là phù hợp; ông T sử dụng số tiền này để đấu giá mua dự án Phú Th tại Bình Ph. Hiện nay ông T bị bắt xử lý trong một vụ án khác nên chưa làm việc được với ông Tâm và có liên quan đến hợp đồng đấu giá mua tài sản tại Bình Ph mà ông T đứng tên nên Tòa án cấp sơ thẩm tách ra giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ kháng cáo của các bị cáo, của ông A và bà H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Bị cáo H và người bào chữa cho bị cáo H trình bày: Ngay từ ban đầu các bị cáo không có ý thức chiếm đoạt tài sản của bị hại, vì đất các bị cáo mua đã làm hồ sơ gửi tại cơ quan có thẩm quyền để xem xét; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ khi còn công tác trong Công an được Giám đốc Công an tỉnh tặng Giấy khen, gia đình hoàn cảnh khó khăn. Khi bị bắt các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội; tổng tài sản của các bị cáo thu giữ kê biên gồm 6 thửa đất và các tài sản khác trên 160 tỷ đồng thì các bị cáo đã khắc phục hoàn toàn thiệt hại; vì các bị cáo đã làm thủ tục thế chấp 6 thửa đất vay của Ngân hàng 180 tỷ đồng được thẩm định và duyệt nhưng do cận tết chưa vay được tiền trả cho khách hàng thì xảy ra vụ án, nên cần ghi nhận để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; các bị cáo còn chỉ cho Cơ quan điều tra biết hành vi lừa đảo của B, nhận tiền của các bị cáo và hứa hẹn sẽ làm được thủ tục cấp dự án, bị Tòa án tỉnh Bình D xét xử nhưng chưa áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo là chưa phù hợp; nay hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng bị cáo tác động gia đình nộp thêm 50 triệu đồng để khắc phục thêm cho bị hại, nhiều bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51, nên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.

- Người bào chữa cho bị cáo C, V và K trình bày: Các bị cáo tham gia với vai trò giúp sức, mục đích mua đất phân lô bán nền; các bị cáo thiếu hiểu biết pháp luật dẫn đến phạm tội; sau khi xét xử tài sản kê biên để bảo đảm thi hành án, dù gia đình khó khăn nhưng đã nộp mỗi bị cáo 20 triệu đồng để khắc phục hậu quả cho bị hại, thể hiện ý chí muốn bồi thường cho bị hại; đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo nhất trí với lời bào chữa của luật sư và cho rằng tài sản của các bị cáo đảm bảo trả đủ nợ cho bị hại và bị cáo Khoa còn cho rằng trong thời gian công tác tại quân đội, được tặng giấy khen nên xin giảm nhẹ hình phạt.

- Người đại diện theo ủy quyền của bà H và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà H trình bày: Tại phiên tòa sơ thẩm không triệu tập ông T và người đại diện theo ủy quyền của bà H tham gia vụ án và tách ra giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Tâm, bà H. Bị cáo Hùng thừa nhận vay tiền của ông T, nếu tách ra giải quyết bằng một vụ án khác theo thủ tục tố tụng là không phù hợp, bị cáo H phải tiếp tục trả nợ khi không còn tài sản nào khác là không phù hợp. Bản án sơ thẩm chưa làm rõ hợp đồng vay tiền của bị cáo H đối với ông T; dù ông Tâm không trực tiếp giao tiền cho bị cáo H nhưng số tiền này dùng để đấu giá dự án tại Bình Phước; có hợp đồng bị cáo H vay tiền, thế chấp và chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang tên ông T, nhưng tách ra không xem xét trong vụ án này là không phù hợp; trong vụ án này cũng có người liên quan khác nhưng lại xem xét, công nhận còn của ông Tâm tách ra là không đúng. Yêu cầu sửa bản án sơ thẩm công nhận bị cáo H trả nợ cho ông T, bà H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đối đáp: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ của từng bị cáo đưa ra và cung cấp, những tình tiết nào thuộc khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự thì áp dụng, những tình tiết khác không thuộc khoản 1 thì Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là đúng quy định, nên người bào chữa yêu cầu áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo H là chưa phù hợp. Người bảo vệ quyền lợi cho bà H yêu cầu giải quyết buộc bị cáo H trả 26.659.000.000 đồng tiền vay cho ông T, bà H là chưa đủ cơ sở, vì ông Tâm đứng tên đấu giá và dùng số tiền này đấu giá mua dự án tại Bình Ph; nên Tòa án cấp sơ thẩm đã tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự là phù hợp.

Không ai tham gia tranh tụng thêm, các bị cáo có lời nói sau cùng như sau: Các bị cáo xin lỗi gia đình của bị hại trong vụ án, vì đã gây ra thiệt hại khó khăn cho người bị hại; các bị cáo hứa sẽ phối hợp thi hành án nhanh để bồi thường cho bị hại, nếu còn tài sản sẽ trả cho những người khác mà các bị cáo nợ; các bị cáo hối hận, ăn năn về hành vi đã gây ra và mong Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo sớm về lo cho con nhỏ, cha mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V Lê Văn C Nguyễn Anh K, người bị hại ông Nguyễn Văn A, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Khúc Hồng H đúng quy định của pháp luật, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

- Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C và Nguyễn Anh Kh:

. Lời nhận tội của các bị cáo H, V C và K tại phiên tòa, phù hợp với tài liệu Cơ quan điều tra đã thu thập, thể hiện từ tháng 5/2018 đến tháng 11/2019 bị cáo H, V, C và K thành lập nhiều Công ty bất động sản, mua các thửa đất có mục đích sử dụng là đất nông nghiệp, cá nhân đứng tên, không chuyển mục đích sử dụng đất, không được các Cơ quan có thẩm quyền tại tỉnh Bình D chấp thuận nhưng tự vẽ sơ đồ phân lô và đặt tên cho từng Dự án; khi Cơ quan có thẩm quyền không chấp thuận Dự án này thì chuyển sang tên của Dự án khác, nhằm tránh sự quản lý của Cơ quan chức năng và làm cho khách hàng tưởng là Dự án có thật. Các bị cáo làm ra các pano, tờ rơi…quảng cáo, rao bán trên mạng internet, đưa ra thông tin gian dối cho các nhân viên kinh doanh về Dự án như: Đã được cấp phép, các lô đất có đầy đủ pháp lý, đủ điều kiện chuyển nhượng …tổ chức các buổi bán hàng, đưa các nhân viên kinh doanh, khách hàng đến các thửa đất. Tại các thửa đất, các bị cáo thuê mướn máy móc, san lấp bề mặt như Dự án đang thi công. Ngoài ra bị cáo Hùng còn làm giả hợp đồng thoả thuận, giấy ủy quyền đứng tên khống Dự án của người khác; để các khách hàng tưởng thật, tin tưởng đồng ý ký 01 hợp đồng môi giới, 459 hợp đồng chuyển nhượng 459 lô đất ở 07 dự án khác nhau do các bị cáo tự đặt ra và dự án không có quyền chuyển nhượng để chiếm đoạt tổng tài sản của 388 bị hại là 163.006.119.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo H, V, C và K phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo H, V, C và K cho rằng ý thức của các bị cáo không chiếm đoạt tài sản của bị hại là không có cơ sở, vì hành vi của bị cáo mua đất nông nghiệp, chưa làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chưa được Cơ quan có thẩm quyền của tỉnh Bình D chấp thuận Dự án nhưng các bị cáo tự đặt tên cho từng Dự án, tự vẽ sơ đồ phân lô chuyển nhượng, nhận tiền của bị hại với tổng số tiền trên 163 tỷ đồng; hành vi phạm tội của các bị cáo đã hoàn thành kể từ ngày chuyển nhượng, nhận tiền của bị hại. Trong vụ án này các bị cáo H, V, C và K đã thống nhất thực hiện hành vi phạm tội như thành lập Công ty, đưa ra kế hoạch, bàn bạc, phân công nhiệm vụ của từng bị cáo nên hành vi phạm tội của các bị cáo có tổ chức; các bị cáo chiếm đoạt số tiền đặc biệt lớn 163.006.119.000 đồng của 388 bị hại, phạm tội thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm a, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo H là người chủ mưu, cầm đầu, thực hiện tội phạm; bị cáo H quyết định toàn bộ các vấn đề theo kế hoạch từ việc thành lập các Công ty, phân công vai trò, bổ nhiệm đặt cọc mua các thửa đất nông nghiệp, lập Dự án không có thực, tự vẽ sơ đồ phân lô (sơ đồ không được xác định vị trí toạ độ theo quy định pháp luật), chỉ đạo thực hiện mọi hoạt động của các Công ty đối với 07/07 Dự án; tổng giá trị tài sản bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là: 163.006.119.000 đồng của 388 bị hại. Dù sau khi phạm tội, bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã bồi thường cho bị hại được 18.149.360.000 đồng; ngoài ra, số tiền mà các bị cáo chiếm đoạt của các bị hại dùng vào việc tiếp tục mua các thửa đất có mục đích sử dụng là đất nông nghiệp hiện cơ quan Cảnh sát điều tra kê biên để bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo H có cha mẹ là người có công với Cách Mạng theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo H mức án tù chung thân là phù hợp với vai trò, tính chất vụ án và hậu quả mà bị cáo H đã gây ra. Tại cấp phúc thẩm người bào chữa cho bị cáo H cho rằng bị cáo H tố giác hành vi lừa đảo của B chạy Dự án để chiếm đoạt tiền của bị cáo, Tòa án tỉnh Bình D đã xét xử B về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là chưa đủ cơ sở; vì bị cáo H là bị hại đã tố giác hành vi của Bằng để xử lý theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, trong thời gian công tác tại lực lượng vũ trang bị cáo H được tặng thưởng giấy khen của Công an tỉnh, UBND tỉnh Bình D và tác động gia đình nộp thêm 50.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; dù bị cáo Hùng cung cấp tài liệu mới về tình tiết giảm nhẹ. Song hậu quả bị cáo H gây ra đặc biệt nghiêm trọng nên không có cơ sở giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.

Bị cáo V, C, K tham gia vụ án với vai trò là đồng phạm, người thực hành tích cực, có vai trò quan trọng quyết định trong việc tổ chức lừa đảo chiếm đoạt tài sản do bị cáo H khởi sướng, đặt ra. Bị cáo V, C, K là cổ đông được bị cáo H bổ nhiệm phân công bị cáo Vui làm Phó giám đốc phụ trách pháp lý, bị cáo Công làm Trưởng phòng nhân sự, bị cáo Khoa làm giám đốc kinh doanh là những mắt xích quan trọng, có vai trò tham gia trong tất cả các Dự án, tham gia gần như tất cả các lần phạm tội. Bị cáo V, Công tham gia bàn bạc thống nhất về tất cả các vấn đề do Hùng đặt ra, trực tiếp ký kết phần lớn các hợp đồng tại 06 Dự án do các bị cáo đặt ra. Bị cáo K thực hiện 04 Dự án, có vai trò đồng phạm trong 269/459 vụ phạm tội. Bị cáo tham gia bàn bạc thống nhất các vấn đề do H đặt ra trong 04 Dự án (Happy Home 1, Happy Home 2; Green City 1, Green City 2) tham gia ký kết, thu tiền của bị hại tại 4 Dự án trên. Hành vi của các bị cáo V, C, K là đặc biệt nghiêm trọng, số tiền chiếm đoạt liên quan từng bị cáo là: bị cáo Vui trên 153 tỷ của 385 bị hại; bị cáo Công trên 151 tỷ của 385 bị hại; bị cáo K trên 94 tỷ của 232 bị hại. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo V mức án 20 năm tù, bị cáo C 18 năm tù, bị cáo Khoa 12 năm 6 tháng tù là nhẹ so với hành vi phạm tội của từng bị cáo; tại cấp phúc thẩm bị cáo C và K tác động gia đình nộp thêm mỗi bị cáo 20.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại cũng chưa đủ cơ sở để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo (Riêng bị cáo Công đã chấp hành xong Bản án số 64/2022/HS-ST ngày 15/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh C nên không tổng hợp trong bản án này).

. Xét kháng cáo của bị cáo K về phần trách nhiệm dân sự, yêu cầu Tòa án phân chia tỷ lệ để các bị cáo bồi thường thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã phân tích, nhận định từng dự án mỗi bị cáo tham gia chiếm đoạt, để đánh giá vai trò từng bị cáo tham gia trong vụ án, từ đó phân hóa mức hình phạt phù hợp với hành vi, mức độ phạm tội, vai trò của từng bị cáo. Còn về trách nhiệm dân sự các bị cáo đều thừa nhận là cổ đông của Công ty, được Công ty trả lương và phân chia lợi nhuận nếu có; các bị cáo chưa được phân chia lợi nhuận và Tòa án cấp sơ thẩm buộc các bị cáo liên đới bồi thường là có cơ sở.

. Xét kháng cáo của bị hại ông Nguyễn Văn A đề nghị sửa phần trách nhiệm dân sự liên quan đến ông Lê Tấn H, Lê Minh H Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị C thành vụ án dân sự khác là không có cơ sở; vì các bị cáo vay tiền của những người trên dùng để chi phí hoạt động của Công ty, mua tài sản của Công ty, trả cho bị hại nên Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết trong vụ án là phù hợp. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Khúc Hồng H yêu cầu buộc bị cáo H trả số tiền vay 26.659.000.000 đồng cho ông T, bà H thì thấy: Bị cáo H ký hợp đồng vay 26.659.000.000 đồng của ông T, khi vay bị cáo Hùng thế chấp 3 thửa đất cho ông T nhưng không thực hiện việc đăng ký bảo đảm theo quy định của pháp luật; khi bị cáo H thế chấp 3 thửa đất này cho ông T, sau khi bị hại đã phát hiện Dự án không có thật và yêu cầu bị cáo H trả lại tiền; ông T không giao số tiền vay trên cho bị cáo H mà dùng vào thực hiện hợp đồng đấu giá quyền sử dụng đất khu dân cư Phú Th tại Bình Ph của ông T; hiện ông T bị điều tra xử lý trong một vụ án hình sự khác của Bộ Quốc Phòng, nên quan hệ dân sự này Tòa án cấp sơ thẩm tách ra giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu là phù hợp.

. Từ những căn cứ và phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy lời bào chữa của các luật sư cho bị cáo H, V, C và K không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận; quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Bác đơn kháng cáo của bị cáo H, V, C và K; bị hại ông A và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà H; giữ nguyên bản án sơ thẩm. Người kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí phúc thẩm theo điểm a và e khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.

I. Không chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C và Nguyễn Anh K; kháng cáo của bị hại ông Nguyễn Văn A và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Khúc Hồng H; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 141/2023/HS-ST ngày 01/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình D như sau:

Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

1. Về tội danh, hình phạt:

1.1 Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C, Nguyễn Anh K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1.2 Về hình phạt:

1.2.1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 39; Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2020.

1.2.2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Anh V 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2020.

1.2.3. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn C 18 (mươi tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2024.

1.2.4. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh K 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2. Về biện pháp tư pháp:

- Tạm giữ số tiền 50.000.000 đồng của Nguyễn Thanh H theo Biên lai thu tiền số 0000039 ngày 16/4/2024 và số 0000042 ngày 24/4/2024 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; số tiền 20.000.000 đồng của Lê Văn C theo Biên lai thu tiền số 0000035 ngày 09/4/2024 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; số tiền 20.000.000 đồng của Nguyễn Anh K theo Biên lai thu tiền số 0000040 ngày 16/4/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình D để thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự:

- Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn A tách phần trách nhiệm dân sự liên quan đến ông Lê Tấn H, Lê Minh H, Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị C thành vụ án dân sự khác.

- Quan hệ dân sự giữa Nguyễn Thanh H và ông Vũ Minh T đối với số tiền 26.659.000.000 đồng về vay mượn và đấu giá tại Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Ph sẽ giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

II. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm a, điểm e khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Nguyễn Thanh H nộp 200.000 đồng;

- Bị cáo Hoàng Anh V nộp 200.000 đồng;

- Bị cáo Lê Văn C nộp 200.000 đồng;

- Bị cáo Nguyễn Anh K nộp 200.000 đồng;

- Bị hại ông Nguyễn Văn A nộp 300.000 đồng;

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Khúc Hồng H nộp 300.000 đồng.

III. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ