- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh H cùng đồn phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? I. Không chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C và Nguyễn Anh K; kháng cáo của bị hại ông Nguyễn Văn A và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Khúc Hồng H; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 141/2023/HS-ST ngày 01/11/2023 của Tòa án…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1048/2024/HS-PT Ngày 11/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Ý
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Văn Công
Ông Ngô Mạnh Cường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh: Ông Vũ Thanh Sơn - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 1010/2023/TLPT-HS ngày 12/12/2023, do các bị cáo Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C, Nguyễn Anh K; bị hại ông Nguyễn Văn A người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Khúc Hồng H kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 141/2023/HS-ST ngày 01/11/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bình D.
Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:
1. Nguyễn Thanh H, sinh năm 1994, tại tỉnh Bình D; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp 1A, xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Lưu Thị V; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 25/02/2020 cho đến nay, có mặt.
2. Hoàng Anh V, sinh năm 1994, tại tỉnh Bình D; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 190, ấp 4, xã An Th, huyện Phú G, tỉnh Bình D; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn V và bà Trần Thị X; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 25/02/2020 cho đến nay, có mặt.
3. Lê Văn C, sinh năm 1977, tại tỉnh Hà N; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 17/11, khu phố Bình Quới B, phường Bình Ch, thành phố Thuận A, tỉnh Bình D; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C và bà Mai Thị V; có vợ tên là Trần Lê Nhi A và 03 con (lớn nhât sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2015) tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Bị Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D xử phạt 06 tháng 07 ngày tù về tội “Đánh bạc” (tại Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2016/HS-ST ngày 09/4/2016), đã chấp hành xong.
- Ngày 01/8/2022 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dương Minh Ch, tỉnh Tây N khởi tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Toà án nhân dân huyện Dương Minh Ch, tỉnh Tây N xử phạt 01 năm 06 tháng tù (tại Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2022/HS-ST ngày 15/12/2022). Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Tống Lê Ch của Bộ Công an, có mặt.
4. Nguyễn Anh K, sinh năm 1991, tại tỉnh Bình D; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 244/33/30, tổ 8, khu phố 5, phường Phú H, thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc Q và bà Thái Thị Minh T; có vợ Nguyễn Thị Phương Th và 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh H: Bà Trịnh Thị H là Luật sư Công ty Luật TNHH Hạnh M thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo V, Công, Kh: Ông Trần Thanh Ph là Luật sư của Công ty Luật TNHH Mỹ Ý thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
- Bị hại có kháng cáo:
Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1981; nơi thường trú: Xóm 16, xã Mỹ Th, huyện Yên Th, tỉnh Nghệ A; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:
Bà Khúc Hồng H, sinh năm 1984; nơi thường trú: Số 95/2/16, đường Bình L, Phường 13, quận Bình Th, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Minh H, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số 43/10/1/1, đường số 42, phường Hiệp Bình Ch, thành phố Thủ Đ, thành phố Hồ Chí Minh (văn bản ủy quyền ngày 08/10/2021), có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H: Ông Nguyễn Tri Th là Luật sư của Công ty Luật TNHH Nam H và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
Ngoài ra trong vụ án có bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác không có kháng cáo và liên quan đến kháng cáo nên tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng thời gian từ năm 2018 - 2019, Nguyễn Thanh H đề xướng, bàn bạc, thống nhất với Hoàng Anh V Lê Văn C, Nguyễn Anh K và Châu Lê Minh Z (tên gọi khác Châu Quốc T) góp vốn thành lập Công ty kinh doanh bất động sản dưới hình thức lập dự án, phân lô, chuyển nhượng quyền sử dụng đất nền. Lợi dụng vào sự thiếu hiểu biết của khách hàng, H, V, C, K và Z đã đưa ra thông tin gian dối về dự án, về pháp lý của các thửa đất … ký hợp đồng thoả thuận đầu tư, hợp đồng thoả thuận chuyển nhượng quyền sử dụng các thửa đất (dự án) không có pháp lý nhằm chiếm đoạt tiền của nhiều bị hại.
Theo thỏa thuận, H góp 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng), K, V, Công và Z mỗi người góp 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng). Số tiền góp có được, H, V, C, K và Z sử dụng để đăng ký thành lập doanh nghiệp, thuê trụ sở kinh doanh, tuyển dụng nhân viên kinh doanh và đặt cọc, nhận uỷ quyền, nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp, tự đặt tên dự án, sau đó thực hiện việc phân lô, bán nền dưới hình thức dự án.
Trong quá trình hoạt động, H cùng đồng phạm đã thành lập 03 công ty bất động sản:
- Công ty Cổ phần thương mại dịch vụ xây dựng đầu tư & phát triển địa ốc Bình Dương City Land (sau đây gọi tắt là Công ty Bình Dương City Land) đăng ký lần đầu ngày 16/5/2018 theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Công ty Cổ phần), mã số doanh nghiệp 3702665748 do Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Bình Dương cấp, địa chỉ công ty: Số N1, Đường Lý Thái T, phường Hòa P, thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D. Ngành nghề kinh doanh chính: Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sử dụng hoặc đi thuê. Vốn điều lệ 20.000.000.000 đồng (hai mươi tỷ đồng). Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Thanh H - Tổng giám đốc. Cổ đông sáng lập gồm: Lê Văn C (20% cổ phần), Châu Quốc T (sau này đổi tên là Châu Lê Minh Z 20% cổ phần), Hoàng Anh V (10% cổ phần), Nguyễn Anh K (25% cổ phần) và Nguyễn Thanh H (25% cổ phần).
- Công ty Cổ phần thương mại dịch vụ xây dựng đầu tư & phát triển địa ốc Thắng L (sau đây gọi tắt là Công ty Thắng l) đăng ký kinh doanh lần đầu ngày 18/12/2018 theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Công ty Cổ phần), mã số doanh nghiệp 3702730323, địa chỉ: Số 1, lô O, đường Đồng Kh, phường Hòa P, thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D. Ngành nghề kinh doanh chính: Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sử dụng hoặc đi thuê. Vốn điều lệ 20.000.000.000 đồng (hai mươi tỷ đồng). Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Thanh H - Tổng giám đốc. Cổ đông sáng lập gồm: Lê Văn C (35% cổ phần), Nguyễn Thanh H (40% cổ phần) và Tạ Ngọc H (sinh năm 1994, CMND số: 241602520, HKTT: tổ dân phố Quyết Th, thị trấn Ea P, huyện Cư Mg, tỉnh Đắk L, 25% cổ phần).
- Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển địa ốc Thành C (sau đây gọi tắt là Công ty Thành C), đăng ký lần đầu ngày 23/5/2019 theo chứng nhận đăng ký doanh nghiệp với mã số doanh nghiệp 3702773662, địa chỉ: Số 1, lô Ô, đường Đồng Khởi, phường Hòa P, thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D. Ngành nghề kinh doanh chính: Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sử dụng hoặc đi thuê. Vốn điều lệ 20.000.000.000 đồng (hai mươi tỷ đồng). Người đại diện theo pháp luật: Hoàng Anh V - Tổng giám đốc. Cổ đông sáng lập gồm: Lê Văn C (35% cổ phần), Tạ Ngọc H (30% cổ phần) và Hoàng Anh V (35% cổ phần).
H và đồng phạm tự phân lô 06 khu đất đất nông nghiệp, đặt tên thành 06 dự án khác nhau:
(1) Khu dân cư Happy Home (sau đó đổi tên là: Khu nhà ở Thành C 1)
(2) Khu dân cư Happy Home 2
(3) Khu dân cư Green City 1 (sau đó đổi tên: Khu nhà ở Phúc L 1)
(4) Khu dân cư Green City 2 (sau đó đổi tên: Khu nhà ở Phúc L 2)
(5) Khu dân cư Green City 3 (sau đó đổi tên: Khu nhà ở Phúc L 2)
(6) Khu dân cư Phúc Long City (sau đó đổi tên: Khu nhà ở Thành C 2)
Ngoài ra H làm giả hợp đồng uỷ quyền, đứng tên khống dự án Khu dân cư Phú Th của Sở Xây dựng tỉnh Bình Ph (giai đoạn 1).
H và đồng phạm phân công vai trò thực hiện, thuê mướn hàng trăm nhân viên kinh doanh, trả lương, hoa hồng …, lập ra nhiều phòng kinh doanh khác nhau và tổ chức huấn luyện nhân viên kinh doanh để tìm kiếm khách hàng; tự vẽ sơ đồ phân lô, làm ra các pano, tờ rơi … quảng cáo, giao bán trên mạng internet, thông tin gian dối cho các nhân viên kinh doanh về dự án như: Đã được cấp phép, các lô đất có đầy đủ pháp lý, đủ điều kiện chuyển nhượng …tổ chức các buổi bán hàng, đưa các nhân viên kinh doanh, khách hàng đến các thửa đất. Tại các thửa đất, H và đồng phạm thuê mướn máy móc, san lấp bề mặt … từ đó các nhân viên kinh doanh tư vấn khách hàng như các thông tin của H và đồng phạm đưa ra, khách hàng tưởng thật, tin tưởng đồng ý ký hợp đồng. H và đồng phạm đại diện các công ty ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nhiều bị hại chiếm đoạt tiền dưới hình thức hợp đồng góp vốn đầu tư, hợp đồng mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Trên các hợp đồng đều có thể hiện căn cứ các dự án đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép, cam kết chuyển nhượng là đất thổ cư, thời hạn cấp sổ và các cam kết khác bảo đảm quyền lợi cho khách hàng … . H cùng đồng phạm đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của các bị hại cụ thể như sau:
1. Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Nguyễn Anh K, Lê Văn C và Châu Lê Minh Z thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại dự án Khu dân cư Happy Home.
Tháng 05/2018, Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C, Nguyễn Anh K và Châu Lê Minh Z thỏa thuận thống nhất mua Thửa đất số 14, 15 thuộc tờ bản đồ số 04 tại xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D, diện tích 8.664,1 m2, mục đích sử dụng: Đất trồng cây hàng năm, được Ủy ban nhân dân huyện Phú G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL900217 (số vào sổ cấp GCN: H04671) ngày 05/11/2008 cho ông Nguyễn Văn Đ với giá 3.600.000.000 đồng (ba tỷ sáu trăm triệu đồng) để phân lô bán nền đất. Ngày 12/5/2018, Nguyễn Thanh H đặt cọc mua thửa đất trên của ông Nguyễn Văn Đ với số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), ngày 30/5/2018, ông Nguyễn Văn Đ ký hợp đồng ủy quyền toàn quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất trên cho Nguyễn Thanh H tại Văn phòng Công chứng Phú G, địa chỉ: số 513, đường ĐT 741, Tổ 3, Khu phố 9, thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình D. Ngày 30/5/2018 và ngày 09/6/2018, Nguyễn Thanh H đã trả hết tổng số tiền 3.500.000.000 đồng (ba tỷ năm trăm triệu đồng) còn lại cho ông Đ.
Ngày 17/6/2019, Nguyễn Thanh H ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên cho Hoàng Anh V. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Phú G đăng ký biến động điều chỉnh GCNQSDĐ sang cho Hoàng Anh V vào ngày 03/7/2019 (mục đích ký hợp đồng là để sang tên đất cho V). Ngày 12/08/2019, Hoàng Anh V ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất trên cho ông Vũ Minh T tại Văn phòng công chứng Phú Th, địa chỉ: khu phố Đông T, phường Tân Đông H. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Phú G đăng ký biến động điều chỉnh GCNQSDĐ sang cho ông Vũ Minh T vào ngày 17/9/2019 (đây là hợp đồng chuyển nhượng giả cách để V và đồng bọn vay tiền của ông T, nội dung này liên quan đến vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại dự án Khu dân cư Phú Th, nêu tại phần sau). Ngày 13/12/2019, Hoàng Anh V đại diện Công ty Thành Công nộp đơn đến Sở Xây dựng tỉnh Bình D để đăng ký đầu tư dự án “Khu nhà ở Thành C 1”, xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D. Ngày 03/01/2020, Sở Xây dựng tỉnh Bình D ban hành Công văn số 03/SXD-QLN gửi đến Công ty Thành C, nội dung trả lời: “Việc đăng ký đầu tư dự án theo phương án đề xuất của Công ty Thành C là chưa phù hợp” (như vậy, dự án “Khu dân cư Happy Home”, sau đó đổi tên là “Khu nhà ở Thành C 1” là dự án không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép đầu tư).
Ngay sau khi đặt cọc mua thửa đất trên của ông Đ, các bị cáo H, V, K, C và Z thống nhất đặt tên dự án là “Khu dân cư Happy Home”, vẽ sơ đồ dự án với tổng số 35 lô đất, diện tích mỗi lô từ 125 m2 đến 250 m2, lập bảng giá từng lô đất, lập mẫu hợp đồng ký kết với khách hàng và triển khai thông tin dự án cho toàn bộ nhân viên kinh doanh Công ty để chào bán nhằm chiếm đoạt tiền của các khách hàng và thỏa thuận, phân công vai trò, thống nhất thực hiện như sau:
Nguyễn Thanh H trực tiếp giao dịch mua đất nông nghiệp, lập bảng giá từng lô đất trong dự án, triển khai thông tin dự án cho nhân viên Công ty và khách hàng có nhu cầu mua đất tại các lần mở bán đất nền tại dự án. Khi triển khai, Nguyễn Thanh H đưa ra tên dự án, vị trí dự án, tiện ích và sản phẩm nền đất dự án đang chào bán như: Vị trí lô đất, giá cả, chiết khấu khi mua và đưa thông tin dự án đầy đủ pháp lý, cam kết thời gian bàn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hạ tầng cho khách hàng từ 6 tháng đến 12 tháng kể từ ngày khách hàng thanh toán 95%; H đề ra việc sử dụng mẫu hợp đồng thỏa thuận chuyển nhượng để ký kết với bị hại, nội dung hợp đồng thể hiện: Thông tin dự án trên đã được chấp thuận của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình D tại công văn 4483/UBND-KTN ngày 09/10/2017; căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa đất thuộc dự án đứng tên Công ty Bình Dương City Land; cùng các hồ sơ, tài liệu pháp lý khác có liên quan Dự án; nội dung các hợp đồng thể hiện thông tin số lô, diện tích nền đất; giá trị chuyển nhượng, tiến độ thanh toán và nghĩa vụ bên chủ đầu tư: Cam kết diện tích nền đất bán là nền đất thổ cư; đảm bảo nền đất thuộc quyền sở hữu hợp pháp và thỏa mãn các quy định của pháp luật cho việc chuyển nhượng. Đồng thời Nguyễn Thanh H còn đứng tên đại điện Công ty Bình Dương City Land ký hợp đồng chuyển nhượng nền đất cho các khách hàng.
Nguyễn Anh K được phân công là Giám đốc kinh doanh, trực tiếp vẽ sơ đồ dự án thể hiện thông tin với tổng số 35 lô đất, diện tích mỗi lô từ: 125 m2 đến 250 m2, đề xuất đặt tên dự án “Khu dân cư Happy Home”, đồng thời quản lý phòng kinh doanh, triển khai thông tin dự án cho các nhân viên kinh doanh và đại diện Công ty Bình Dương City Land ký giấy tờ giao dịch với khách hàng như: Hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng đất cho khách hàng; phiếu thu tiền và đưa ra các kế hoạch chiến lược tìm kiếm khách hàng mua đất cho các phòng kinh doanh tại dự án.
Hoàng Anh V được phân công là Trưởng phòng nhân sự Công ty Bình Dương City Land có nhiệm vụ tuyển dụng nhân viên, quản lý hồ sơ nhân viên, quản lý thời gian làm việc của các nhân viên Công ty khi chào bán nền đất tại dự án Happy Home.
Lê Văn C là Trưởng phòng kinh doanh có nhiệm vụ quản lý các nhân viên phòng kinh doanh; triển khai thông tin liên quan dự án cho toàn bộ nhân viên, trực tiếp tư vấn khách hàng và hỗ trợ nhân viên kinh doanh tư vấn khách hàng mua đất; đưa ra các kế hoạch, phân công nhân viên kinh doanh tìm kiếm khách hàng để mua đất tại dự án.
Châu Lê Minh Z ban đầu chỉ là cổ đông góp vốn, sau đó được phân là Trưởng phòng kinh doanh (một trong các phòng kinh doanh) có nhiệm vụ quản lý các nhân viên phòng kinh doanh do mình quản lý; triển khai thông tin liên quan dự án cho toàn bộ nhân viên, trực tiếp tư vấn khách hàng và hỗ trợ nhân viên kinh doanh tư vấn khách hàng mua đất; đưa ra các kế hoạch, phân công nhân viên kinh doanh tìm kiếm khách hàng để mua đất tại dự án.
Từ tháng 5/2018 đến tháng 6/2018, các nhân viên đã đưa ra các thông tin gian dối do Hùng, Vui, Công, Khoa và Vẹn truyền đạt như trên cho 23 người bị hại để Hùng, Khoa, Vui ký 23 hợp đồng chuyển nhượng 23 lô đất chiếm đoạt 6.099.500.000 đồng (sáu tỷ không trăm chín mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng).
Danh sách người bị hại, số tiền chiếm đoạt và số tiền đã trả lại như sau:
BỊ
HỌ TÊN BỊ SINH SỐ TIỀN ĐÃ
SỐ TIỀN STT
CÁOKÝ
HẠI
NĂM
NỘP
ĐÃ TRẢ
HĐ
Nguyễn 1
Đào Ngọc Q
1986
279,000,000
40,000,000
Anh K
Nguyễn Thị
Nguyễn 2
1990
279,000,000
0
Thủy Tr
Anh K
Nguyễn 3
Bùi Thị M
1988
279,000,000
65,800,000
Thanh H
Nguyễn 4
Bùi Quang V 1983
279,000,000
0
Anh K
Nguyễn 5
Phạm Thị Tr
1988
279,000,000
0
Thanh H
Phạm Nguyễn
Nguyễn 6
1985
279,000,000
0
Duy Ph
Anh K
Nguyễn 7
Hồ Phúc Đ
1994
144,500,000
0
Thanh H
Nguyễn 8
Trương Phú T 1989
459,500,000
0
Thanh H
Nguyễn 9
Nguyễn Thị H 1993
279,000,000
19,000,000
Thanh H
Nguyễn 10
Lê Tường V
1981
279,000,000
0
Anh K
Nguyễn 11
Bồ Thanh H
1985
279,000,000
38,000,000
Anh K
Nguyễn 12 Nguyễn Đức B 1984
279,000,000
Anh K
Nguyễn 13 Nguyễn Đức T 1990
279,000,000
0
Anh K
Nguyễn 14 Nguyễn Văn Q 1986
319,000,000
319,000,000
Anh K
Nguyễn 15
Lê Văn H
1975
279,000,000
279,000,000
Anh K
Nguyễn 16
Lê Văn N
1985
279,000,000
290,000,000
Anh K
Nguyễn 17
Hồ Văn L
1985
138,500,000
144,500,000
Anh K
Nguyễn 18
Vi Văn K
1992
279,000,000
298,000,000
Anh K
Hoàng 19
Trần Hoài N
1987
279,000,000
279,000,000
Anh V
Nguyễn 20 Đặng Công Th 1983
279,000,000
307,000,000
Anh K
Nguyễn 21
Cao Thị H
1986
279,000,000
289,000,000
Thanh H
Nguyễn Thị
Nguyễn 22
1989
150,000,000
150,000,000
Thanh K
Thanh H
Trần Thị
Nguyễn 23
1989
145,000,000
145,000,000
Phương T
Thanh H
6,099,500,000 2,663,300,000
TỔNG
Sau khi bị phát hiện, bị tố giác, Nguyễn Thanh H và đồng phạm trả lại cho các bị hại 2.663.300.000 đồng (hai tỷ sáu trăm sáu mươi ba triệu ba trăm nghìn đồng), số tiền chiếm đoạt còn lại chưa trả là 3.510.200.000 đồng (ba tỷ năm trăm mười triệu hai trăm nghìn đồng). Trong 23 hợp đồng trên, Nguyễn Anh K là người trực tiếp ký 14 (mười bốn) hợp đồng chuyển nhượng 14 lô đất cho 14 bị hại, chiếm đoạt tổng là 3.805.500.000 đồng (ba tỷ tám trăm lẻ năm triệu năm trăm nghìn đồng), đã trả lại cho bị hại 1.715.500.000 đồng (một tỷ bảy trăm mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng), số tiền chiếm đoạt còn lại chưa trả là 2.154.000.000 đồng (hai tỷ một trăm năm mươi tư triệu đồng); Nguyễn Thanh H là người trực tiếp ký 08 (tám) hợp đồng chuyển nhượng 08 lô đất cho 08 bị hại, chiếm đoạt tổng là 2.015.000.000 đồng (hai tỷ không trăm mười lăm triệu đồng), đã trả lại cho bị hại 668.800.000 đồng (sáu trăm sáu mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng), tiền chiếm đoạt còn lại chưa trả là 1.356.200.000 đồng (một tỷ ba trăm năm mươi sáu triệu hai trăm nghìn đồng); Hoàng Anh V là người trực tiếp ký 01 (một) hợp đồng chuyển nhượng 01 lô đất cho 01 bị hại, chiếm đoạt tổng là 279.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi chín triệu đồng), đã trả lại cho bị hại 279.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi chín triệu đồng).
2. Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Nguyễn Anh K, Lê Văn C và Châu Lê Minh Z thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại dự án Khu dân cư Happy Home 2.
Đến cuối tháng 5/2018, sau khi thu tiền của nhiều khách hàng tại Dự án Happy Home, Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C, Nguyễn Anh K và Châu Lê Minh Z thống nhất mua đất nông nghiệp của bà Đinh Thị Thu H tại thửa đất số 126, tờ bản đồ số 30, diện tích: 9.354,2 m2 thuộc xã Thanh A, huyện Dầu T, tỉnh Bình D được Ủy ban nhân dân huyện Dầu T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB735752 (số vào sổ cấp GCN: CH02388) ngày 10/8/2016, với giá trị chuyển nhượng là 19.300.000.000 đồng (mười chín tỷ ba trăm triệu đồng).
Ngày 26/5/2018, Trần Quốc T đứng tên thay đặt cọc để nhận tiền môi giới từ chủ đất cho nhóm H mua thửa đất trên là 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng). Đến ngày 09/8/2018, H chuyển khoản cho bà H trả hết 16.300.000.000 đồng (mười sáu tỷ ba trăm triệu đồng). Đến ngày 14/8/2018, bà Đinh Thị Thu H mới ký hợp đồng ủy quyền đối với thửa đất trên cho Nguyễn Thanh H tại Văn phòng Công chứng Phạm Văn C - thị xã Thuận A (nay là thành phố Thuận A), tỉnh Bình D. Ngày 13/8/2019, theo yêu cầu của Hùng bà Đinh Thị Thu Hương ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên cho ông Vũ Minh T (sinh năm: 1984 HKTT: 95/2/16 Bình L, Phường 13, quận Bình Th, Thành phố Hồ Chí Minh) tại Văn phòng Công chứng Phú Th, địa chỉ: khu phố Đông T, phường Tân Đông H, thành phố Dĩ A, tỉnh Bình D. (Trên thực tế là hợp đồng chuyển nhượng giả cách để H vay tiền của T, nội dung này liên quan đến vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại dự án Khu dân cư Phú Th, nêu tại phần sau). Ngày 02/10/2019, bà Đinh Thị Thu H tiếp tục ký hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Vũ Minh T, nội dung sửa đổi, bổ sung: diện tích đất thay đổi sau khi đo đạc thực tế giảm còn 9.194 m2 và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình D cấp giấy chứng nhận ngày 27/11/2019 cho ông Vũ Minh T.
(Như vậy, dự án “Khu dân cư Happy Home 2” là dự án chưa thực hiện thủ tục cấp phép và không có cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép đầu tư theo quy định).
Ngay sau khi đặt cọc, H, V, K, C và thống nhất đặt tên dự án là “Khu dân cư Happy Home 2” tại thửa đất của bà H, sơ đồ dự án tổng số 54 lô đất, diện tích mỗi lô từ: 125 m2 đến 175 m2, lập bảng giá từng lô đất, lập mẫu hợp đồng ký kết với khách hàng và triển khai thông tin dự án cho toàn bộ nhân viên kinh doanh Công ty để chào bán nhằm chiếm đoạt tiền của các khách hàng và thỏa thuận phân công vai trò, thống nhất thực hiện như sau:
Nguyễn Thanh H trực tiếp vẽ sơ đồ phân lô dự án, lập bảng giá từng lô với giá từng nền đất từ 625.000.000 đồng (sáu trăm hai mươi lăm triệu đồng) đến 1.050.000.000 đồng (một tỷ không trăm năm mươi triệu đồng), đề xuất đặt tên dự án là “Khu dân cư Happy Home 2” và có vai trò trong các công việc khác tương tự như đối với dự án “Khu dân cư Happy Home” nêu trên. Đối với vai trò Nguyễn Anh K Hoàng Anh V, Lê Văn C và Châu Lê Minh Z cũng giống như trong dự án “Khu dân cư Happy Home”. Đến giữa tháng 8/2018, Châu Lê Minh Z thoả thuận rút vốn tại Công ty Bình Dương City Land ra làm riêng và nhận trước 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) là tiền góp vốn và lợi nhuận từ việc góp vốn tại 02 dự án “Khu dân cư Happy Home” và “Khu dân cư Happy Home 2”.
Mặc dù thửa đất mới đặt cọc, chưa thực hiện chuyển quyền sử dụng đất và chưa thực hiện bất kỳ thủ tục nào về dự án khu dân cư nhưng từ cuối tháng 5 năm 2018 đến ngày 30 tháng 6 năm 2018, nhân viên đã đưa ra các thông tin gian dối do H, K, V, C và Z truyền đạt như trên cho 11 người bị hại đồng ý làm hợp đồng để Hùng đại diện Công ty Bình Dương City Land ký 12 (mười hai) hợp đồng chuyển nhượng 12 lô đất cho 09 bị hại, chiếm đoạt tổng là 11.200.250.000 đồng (mười một tỷ hai trăm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng); Nguyễn Anh K ký 03 (ba) hợp đồng chuyển nhượng 03 lô đất cho 02 bị hại, chiếm đoạt 2.834.250.000 đồng (hai tỷ tám trăm ba mươi tư triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Danh sách người bị hại, số tiền chiếm đoạt và số tiền đã trả lại như sau:
SINH SỐ TIỀN ĐÃ SỐ TIỀN ĐÃ
Họ tên bị hại
BỊ CÁOKÝ HĐ STT
NĂM
NỘP
TRẢ
Nguyễn Thị 1
1964 952,000,000
0
Nguyễn Thanh H
Lan H 2 Nguyễn Thị H 1959 1,905,000,000
Nguyễn Thanh H 3 Vòng Cún L
1989 952,500,000
0
Nguyễn Thanh H
Phạm Nguyễn 4
1985 950,000,000
100,000,000 Nguyễn Thanh H
Duy Ph 5 Bùi Anh Đ
1973 952,500,000
119,000,000
Nguyễn Anh K
Nguyễn Thành 6
1975 1,772,500,000
0
Nguyễn Thanh H
C
Nguyễn Thùy 7
1989 1,882,250,000
0
Nguyễn Anh K
D
Nguyễn Thị 8
1974 1,905,000,000
0
Nguyễn Thanh H
Ch
Phạm Thị 9
1983 952,500,000
50,000,000 Nguyễn Thanh H
Minh T 10 Đỗ Thế P
1986 952,500,000
0
Nguyễn Thanh H
Trần Thị Ánh 11
1977 858,250,000
858,250,000 Nguyễn Thanh H
Ng
TỔNG
14,035,000,000 1,127,250,000
Sau khi sự việc bị phát hiện, bị tố giác, Nguyễn Thanh H cùng đồng bọn trả lại cho các bị hại tổng là 1.127.250.000 đồng (một tỷ một trăm hai mươi bảy triệu bảy trăm năm mươi đồng), số tiền còn chiếm đoạt chưa trả là 12.907.750.000 đồng (mười hai tỷ chín trăm không bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Trong thời gian Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C, Nguyễn Anh K, Châu Lê Minh Z chào bán nền đất cho các khách hàng tại dự án trên thì vào ngày 22/6/2018, UBND huyện Dầu T phát hiện và tiến hành lập biên bản về việc phân lô bán nền trái phép đối với Nguyễn Thanh H, Nguyễn Anh K, nội dung biên bản thể hiện: việc phân lô, bán nền tại khu đất thuộc tờ bản đồ số 30, thửa đất số 26, tọa lạc ấp Bến Tr, xã Thanh A, huyện Dầu T, tỉnh Bình D do Công ty Bình Dương City Land theo sơ đồ phân lô dự án “Khu dân cư Happy Home 2” là không phù hợp, không đúng quy định của pháp luật: sơ đồ phân lô theo sơ đồ phân lô dự án “Khu dân cư Happy Home 2” chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, yêu cầu Công ty không được phân lô, rao bán vì khu đất không phù hợp quy hoạch Hùng, Khoa đã ký biên bản vi phạm. Đến ngày 30/6/2018, Nguyễn Thanh H vẫn tiếp tục ký kết hợp đồng chuyển nhượng cho khách hàng tên Phạm Nguyễn Duy Ph.
3. Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Nguyễn Anh K, Lê Văn C thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại dự án Khu dân cư Green City 1.
Sau khi thu tiền của các khách hàng tại các dự án trước, H, V, K và C thống nhất tiến hành đặt cọc mua đất nông nghiệp tại thửa đất số 411, tờ bản đồ số 36, diện tích: 12.152,9 m2, mục đích sử dụng đất: đất trồng cây lâu năm thuộc xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D được cấp theo giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL565889 (số vào sổ cấp GCN:CH02514) do UBND huyện Bến C cấp ngày 01/10/2012 cho ông Nguyễn Đình Th. Ngày 27/6/2018, Nguyễn Thanh H và ông Th ký thoả thuận mua thửa đất với giá 8.500.000.000 đồng (tám tỷ năm trăm triệu đồng) và đặt cọc 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng) tại nhà ông Th. Đến ngày 23/7/2018, ông Nguyễn Đình Th mới ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên cho Nguyễn Thanh H tại Văn phòng công chứng Bàu B, tỉnh Bình D và H trả hết số tiền còn lại. Đến ngày 05/9/2018, Sở Tài nguyên và Môi trưởng tỉnh Bình D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Nguyễn Thanh H.
Ngày 05/10/2018, Sở Xây Dựng tỉnh Bình D nhận hồ sơ xin đăng ký làm chủ đầu tư dự án “Khu nhà ở Green City 1” tại xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D của Công ty Bình Dương City Land. Ngày 22/10/2018, Sở Xây Dựng tỉnh Bình D ban hành văn bản số 3586/SXD-QLN về việc trả hồ sơ đăng ký đầu tư dự án “Khu nhà ở Green City 1”. Do hồ sơ chưa đúng thành phần theo quy định. Ngày 27/11/2018, Sở Xây Dựng tỉnh Bình D tiếp tục nhận được hồ sơ đăng ký làm chủ đầu tư dự án “Khu nhà ở Phố Xanh 1” (trước đó là “Khu nhà ở Green City 1”) do Công ty Bình Dương City Land đăng ký làm chủ đầu tư. Ngày 12/12/2018, Sở Xây Dựng ban hành Văn bản số 4367/SXD-QLN về việc trả hồ sơ đăng ký đầu tư dự án “Khu nhà ở Phố xanh 1” do Công ty Bình Dương City Land đăng ký làm chủ đầu tư. Do vị trí đầu tư dự án tại thửa đất nêu trên chưa phù hợp với quy hoạch. Ngày 13/5/2019, Sở Xây Dựng tỉnh Bình Dương nhận đơn đăng ký số 09/A ngày 12/5/2019 về việc làm chủ đầu tư dự án “Khu nhà ở Phúc L 1” (trước đó là “Khu nhà ở Phố X 1”) do Công ty Thắng L đăng ký làm chủ đầu tư dự án. Ngày 17/5/2019, Sở Xây Dựng tỉnh Bình D ban hành văn bản số 1792/SXD-QLN về việc thông báo đăng ký đầu tư dự án “Khu nhà ở Phúc L 1”, nội dung xác định: khu đất Công ty đăng ký đầu tư dự án hiện đang thuộc quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thanh H chưa thuộc quyền sử dụng của Công ty. Sở Xây Dựng không có cơ sở để xem xét việc đăng ký làm chủ đầu tư dự án theo đề nghị của Công ty (như vậy, dự án “Khu dân cư Green City 1”, sau đó đổi tên thành “Khu nhà ở Phố X 1” và cuối cùng đổi tên thành “Khu nhà ở Phúc L 1” là dự án không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép đầu tư theo quy định).
Ngay sau khi đặt cọc mua thửa đất trên, H, V, K, C thống nhất đặt tên dự án “Khu dân cư Green City” trên thửa đất của ông Thoại, lập sơ đồ dự án tổng số 95 lô đất, diện tích mỗi lô từ 95 m2 đến 140 m2, lập bảng giá từng lô đất, lập mẫu hợp đồng ký kết với khách hàng và triển khai thông tin dự án cho toàn bộ nhân viên kinh doanh Công ty để tiến hành chào bán nhằm chiếm đoạt tiền của các khách hàng. Nguyễn Thanh H và đồng bọn thỏa thuận phân công vai trò, thống nhất nội dung thực hiện.
Nguyễn Thanh Hùng là tổng giám đốc Công ty Bình Dương City Land có vai trò tương tự như những dự án trước và trực tiếp ký hợp đồng với một số khách hàng, Nguyễn Anh K là giám đốc kinh doanh có vai trò tương tự như các dự án trước, trực tiếp phác thảo, vẽ sơ đồ dự án này; Lê Văn C là trưởng phòng kinh doanh thực hiện vai trò tương tự như hai dự án trước để thực hiện việc bán dự án “Khu dân cư Green City 1”. Đối với Hoàng Anh V, tháng 7 năm 2018, Vui được phân công làm Phó Giám đốc phụ trách pháp lý đại diện Công ty Bình Dương City Land ký giấy tờ giao dịch với khách hàng mua đất như: hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng đất, phiếu thu tiền.
Mặc dù thửa đất mới đặt cọc, chưa thực hiện xong việc chuyển quyền sử dụng đất và thực hiện bất kỳ thủ tục nào về dự án khu dân cư nhưng từ tháng 7 đến ngày 22 tháng 9 năm 2018, nhân viên đã đưa ra các thông tin gian dối do H, K, V và Công truyền đạt như trên cho 63 bị hại đồng ý làm hợp đồng để Hùng, Vui đại diện Công ty Bình Dương City Land ký 69 hợp đồng về việc chuyển nhượng 69 lô đất nền dự án cho 63 bị hại (có danh sách thống kê cụ thể phụ lục III kèm theo), chiếm đoạt tổng số tiền: 21.734.050.000 đồng (hai mươi mốt tỷ bảy trăm ba mươi tư triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Danh sách người bị hại, số tiền chiếm đoạt và số tiền đã trả lại như sau:
họ tên bị
sinh
số tiền đã nộp số tiền đã trả bị cáoký hđ STT
hại
năm
Hoàng Anh
1
Phan Văn D
300,000,000
40,000,000
1990
V
Hoàng Anh
2
Lê Kim Ph
350,000,000
10,000,000
1991
V
Hoàng Anh
3
Trần Văn Nh
310,000,000
141,500,000
1991
V
Bùi Thị
Hoàng Anh
4
1989 962,700,000
30,000,000
Minh H
V
Trần Thị Mỹ
Hoàng Anh
5
1985 310,000,000
10,000,000
Ng
V
Hoàng Anh
Trần Văn Q
374,000,000
1977
V
Nguyễn Thị
Hoàng Anh
7
315,000,000
0
H
1985
V
Nguyễn
Hoàng Anh
8
329,000,000
0
Đình L
1976
V
Hoàng Anh
9
Trần Minh H
235,000,000
23,500,000
1993
V
Hoàng Anh
10
Lê Thị Đ
300,000,000
40,000,000
1979
V
Quách Công
Hoàng Anh
11
1987 284,500,000
56,900,000
Ngh
V
Nguyễn Thị
Hoàng Anh
12
1983 440,000,000
0
Minh Th
V
Hoàng Anh
13
Mai Đức H 1986 315,000,000
31,500,000
V
Hoàng Anh
14
Đỗ Thị Th 1983 315,000,000
31,500,000
V
Hoàng Anh
15 Phan Thị Nh 1988 305,000,000
30,500,000
V
Phùng Văn
Hoàng Anh
16
1973 385,000,000
0
Th
V
Nguyễn Đức
Hoàng Anh
17
293,000,000
10,000,000
Kh
1989
V
Hoàng Anh
18 Hoàng Thị H
315,000,000
0
1994
V
Nguyễn
Hoàng Anh
19
310,000,000
38,700,000
Thanh T
1986
V
Trương Sỹ
Nguyễn
20
330,000,000
33,000,000
Th
1980
Thanh
1979 315,000,000
31,500,000
Hoàng A V
Mai Th Th
( Chồng tên
Nguyễn
Xuân T)
Hoàng Anh
22
Võ Thị H
324,800,000
0
1988
V
Hoàng Anh
23 Ngô Hùng V
315,000,000
0
1960
V
Vũ Thành
Hoàng Anh
24
1979 340,000,000
44,000,000
Ph
V
Hoàng Anh
25
Lê Thị Th
325,000,000
0
1990
V
Nguyễn Thị
Hoàng Anh
26
1980 945,000,000
750,000,000
Minh Ng
V
Hoàng Anh
27
Đào Thị Th
277,000,000
100,000,000
1983
V
Phan Minh
Hoàng Anh
28
330,000,000
33,000,000
K
1976
V
Hoàng Anh
29 Trần Đăng H
337,200,000
67,440,000
1991
V
Lê Thị H
Hoàng Anh
30
667,500,000
0
(Lê Xuân H) 1989
V
Hoàng Anh
31
Ngô Văn H
385,000,000
0
1981
V
Thượng Thị
Hoàng Anh
32
360,000,000
36,000,000
Hồng S
1979
V
Hoàng Anh
33
Lê Trọng T
350,000,000
35,000,000
1989
V
Hoàng Anh
34
Lê Trọng L
321,700,000
32,170,000
1984
V
Hoàng Anh
35 Lê Trọng Ng
315,000,000
31,500,000
1985
V
Dương Ngọc
Hoàng Anh
315,500,000
31,500,000
B
1996
V
Nguyễn Thị
Hoàng Anh
37
374,000,000
37,400,000
Th
1988
V
Hoàng Anh
38 Trần Thị Kh
315,000,000
60,000,000
1987
V
Lê Thị Thùy
Hoàng Anh
39
360,000,000
0
Tr
1976
V
Hoàng Anh
40 Bùi Xuân H 1986 358,000,000 250,000,000
V
Nguyễn
41
Lê Thị Út S
374,000,000
0
1990
Thanh H
Nguyễn Thị
Hoàng Anh
42
346,500,000
10,000,000
Thanh V
1988
V
Phan Thị
B
Hoàng Anh
43
326,000,000
0
(Chồng tên
V
Lê Văn B) 1992
Hoàng Anh
44
Mai Văn T
212,000,000
0
1986
V
Hoàng Anh
45
Vũ Minh T
334,400,000
150,000,000
1993
V
Lê Nguyễn
Hoàng Anh
46
315,000,000
25,500,000
Hoài S
1979
V
Hoàng Anh
47 Lê Thanh D
315,000,000
73,000,000
1989
V
Hoàng Anh
48
Lâm Tú Tr
380,000,000
0
1984
V
Hoàng Anh
49
Nguyễn T
325,000,000
0
1981
V
50
1988 315,000,000
73,000,000
Nguyễn Văn
Hoàng Anh
H
V
Hoàng Anh
51
Lê Văn G
330,000,000
22,800,000
1995
V
Hoàng Anh
52
Lê Tấn Q 1990 330,000,000
33,000,000
V
Hoàng Anh
53
Võ Công M
315,000,000
31,500,000
1988
V
Hoàng Anh
54 Phan Anh N
330,000,000
10,000,000
1961
V
Hoàng Anh
55
Lê Văn M
365,000,000
73,000,000
1984
V
Hoàng Anh
56
Lê Văn D
50,000,000
50,000,000
1991
V
Huỳnh Thị
Hoàng Anh
57
225,000,000
225,000,000
Nh
1980
V
Hoàng Anh
58
Tạ Minh Ph
503,750,000
519,350,000
1982
V
Nguyễn Thế
Hoàng Anh
59
200,000,000
210,000,000
N
1982
V
Hoàng Anh
60 Vũ Ngọc Th
446,000,000
446,000,000
1980
V
Trần Ngọc
Hoàng Anh
61
330,000,000
330,000,000
Ph
1977
V
Nguyễn Thị
Hoàng Anh
62
247,500,000
247,500,000
Trúc Ph
1988
V
Hà Phương
Hoàng Anh
63
110,000,000
110,000,000
Th
1990
V
Tổng
21,734,050,000 4,706,260,000
Sau khi sự việc bị phát hiện, bị tố giác, Nguyễn Thanh H và đồng bọn đã trả lại cho các bị hại với tổng số tiền: 4.456.260.000 đồng (bốn tỷ bốn trăm năm sáu triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng), tiền chiếm đoạt chưa trả là: 17.303.390.000 đồng (mười bảy tỷ ba trăm lẻ ba triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng), trong đó: Hoàng Anh V là người trực tiếp ký 67 (sáu bảy) hợp đồng chuyển nhượng 67 lô đất cho 61 bị hại, chiếm đoạt tổng số tiền: 21.030.050.000 đồng (hai mươi mốt tỷ không trăm ba mươi triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Đã trả lại cho các bị hại tổng là: 4.673.260.000 đồng (bốn tỷ sáu trăm bảy mươi ba triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng), còn chiếm đoạt chưa trả là: 17.053.390.000 đồng (mười bảy tỷ không trăm năm mươi ba triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng). Nguyễn Thanh H là người trực tiếp ký 02 (hai) hợp đồng chuyển nhượng 02 lô đất cho 02 bị hại, chiếm đoạt tổng: 704.000.000 đồng (bảy trăm lẻ bốn triệu đồng). Đã trả lại cho bị hại: 33.000.000 đồng (ba mươi ba triệu đồng), còn chiếm đoạt chưa trả là: 671.000.000 đồng (sáu trăm bảy mươi mốt triệu đồng).
Ngày 17/01/2020, Nguyễn Thanh H vay của ông Nguyễn Văn B (sinh năm 1975, nơi cư trú: số 1, đường số 5 TTHC, Khu phố Nhị Đồng 2, phường Dĩ A, thành thành phố Dĩ A, tỉnh Bình D) 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng) dưới hình thức viết giấy vay tiền và ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Bản tại Văn phòng Công chứng Dĩ A, tỉnh Bình D.
Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C thống nhất thành lập thêm Công ty Thắng L (như nêu ở phần trên). Trong thời gian xin đăng ký làm chủ đầu tư dự án như nêu trên, Hoàng Anh V đã thực hiện việc đại diện Công ty Thắng L ký đổi 04 hợp đồng chuyển nhượng cho 04 bị hại tại “Dự án Green City 1” (do Vui đại diện Công ty Bình Dương City Land ký trước đó) sang hợp đồng chuyển nhượng tại dự án “Khu nhà ở Phúc Long 1”.
4. Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Nguyễn Anh K, Lê Văn C thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại dự án Khu dân cư Green City 2”.
Cuối tháng 7 năm 2018, sau khi thu tiền của nhiều khách hàng tại những dự án trước, Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V Nguyễn Anh K và Lê Văn C thống nhất mua đất nông nghiệp tại khu đất có tổng diện tích 28.833,1 m2, mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm, tại xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D của 09 cá nhân: ông Lê Văn Th, Từ Đức Tú A và bà Trần Tống Kim Ph, bà Nguyễn Thị Thanh Tr và ông Lê Tiến L, ông Huỳnh Công H và bà Võ Thị L, ông Trần Danh A và bà Trần Thị T tại Văn phòng Công chứng Mỹ Ph, tỉnh Bình D, 10 thửa đất số 2322; 2323; 2324; 2325; 2326; 2327; 2328; 2329; 2330; 2331, tờ bản đồ số 37 với tổng diện tích 28.833,1 m2, mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm, tại xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D với giá: 14.950.000.000 đồng (mười bốn tỷ chín trăm năm mươi triệu đồng). Ngày 23/7/2018, Nguyễn Thanh H đặt cọc mua các thửa đất trên với ông Lê Văn Th: 1.100.000.000 đồng (một tỷ một trăm triệu đồng). Ngày 23/8/2018, Nguyễn Thanh H mới ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên. Ngày 25/7/2018 và ngày 22/8/2018, Nguyễn Thanh H đã trả hết 13.850.000.000 đồng (mười ba tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng) còn lại cho ông Huỳnh Công Hưng và ông Lê Văn Th. Ngày 19/09/2018, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình D cấp GCNQSD đất cho Nguyễn Thanh H thửa đất số 2650, tờ bản đồ số 37 (được hợp từ các thửa đất nêu trên).
Ngày 05/10/2018, Sở Xây Dựng tỉnh Bình D nhận hồ sơ xin đăng ký làm chủ đầu tư Dự án “Khu dân cư Green City 2” tại xã Lai H, huyện Bàu B của Công ty Bình Dương City Land. Ngày 22/10/2018, Sở Xây Dựng tỉnh Bình D ban hành văn bản số 3586/SXD-QLN về việc trả hồ sơ đăng ký đầu tư dự án “Khu dân cư Green City 2”. Do hồ sơ chưa đúng thành phần theo quy định. Ngày 27/11/2018, Sở Xây Dựng tỉnh Bình D tiếp tục nhận được hồ sơ đăng ký làm chủ đầu tư dự án “Khu nhà ở Phố Xanh 2” (trước đó là “Khu dân cư Green City 2”) do Công ty Bình Dương City Land đăng ký làm chủ đầu tư. Ngày 12/12/2018, Sở Xây Dựng ban hành Văn bản số 4367/SXD-QLN về việc trả hồ sơ đăng ký đầu tư dự án “Khu nhà ở Phố xanh 2” (“Khu dân cư Green City 2”) do Công ty Bình Dương City Land đăng ký làm chủ đầu tư. Do qua khảo sát, vị trí đầu tư tại thửa đất nêu trên là chưa phù hợp với quy hoạch. Ngày 13/5/2019, Nguyễn Thanh H đại diện Công ty Thắng L nộp đơn đăng ký dự án “Khu nhà ở Phúc L 2” (khu đất xin dự án với diện tích: 5,9 ha bao gồm dự án “Khu nhà ở Green City 2” với diện tích: 28.833,1 m2 và dự án “Khu dân cư Green City 3” với diện tích: 30,306 m2) đến Sở Xây Dựng tỉnh Bình D. Ngày 17/5/2019, Sở Xây dựng tỉnh Bình D trả lời không có cơ sở xem xét. Ngày 17/5/2019, Sở Xây Dựng tỉnh Bình D ban hành văn bản số 1793/SXD-QLN về việc thông báo đăng ký đầu tư dự án “Khu nhà ở Phúc L 2”, nội dung văn bản thể hiện: Sở Xây Dựng tỉnh Bình D nhận thấy khu đất Công ty đăng ký đầu tư dự án hiện đang thuộc quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân Nguyễn Thanh H, Ngô Sơn C chưa thuộc quyền sử dụng của Công ty. Do đó, Sở Xây Dựng không có cơ sở để xem xét việc đăng ký làm chủ đầu tư dự án theo đề nghị của Công ty (như vậy, dự án “Khu dân cư Green City 2”, sau đó đổi tên thành “Khu nhà ở Phúc L 2” là dự án không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép đầu tư theo quy định).
Ngay sau khi đặt cọc, H, V, K và C thống nhất đặt tên dự án “Khu dân cư Green City 2”, lập sơ đồ dự án tổng số 212 lô đất, diện tích mỗi lô từ: 82,5 m2 đến 171 m2, lập bảng giá từng lô đất, lập mẫu hợp đồng ký kết với khách hàng và triển khai thông tin dự án cho toàn bộ nhân viên kinh doanh Công ty để chào bán nhằm chiếm đoạt tiền của các khách hàng và thỏa thuận phân công vai trò, thống nhất thực hiện.
Nguyễn Thanh H có vai trò tương tự như trong các dự án trước. Ngoài ra, Nguyễn Thanh Hùng đề xuất đổi tên dự án “Khu dân cư Green City 2” sang dự án “Khu nhà ở Phú L 2” và sử dụng pháp nhân Công ty Thắng L để giao dịch với khách hàng, trực tiếp đại điện Công ty Thắng l ký hợp đồng chuyển nhượng nền đất cho khách hàng. Nguyễn Anh K là Giám đốc kinh doanh, Hoàng Anh V được phân công làm Phó Giám đốc phụ trách pháp lý, Lê Văn C là Trưởng phòng kinh doanh với vai trò tương tự như trong các dự án trước đó. Đến giữa tháng 8/2018, Nguyễn Anh K thoả thuận rút vốn tại Công ty và nhận trước 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng).
Mặc dù thửa đất mới đặt cọc, chưa thực hiện xong việc chuyển quyền sử dụng đất nhưng từ ngày 30 tháng 7 đến tháng 11 năm 2018, nhân viên đã đưa ra các thông tin gian dối do H, K, V và C truyền đạt như trên cho 134 bị hại đồng ý làm hợp đồng để H, V đại diện Công ty Bình Dương City Land ký 160 hợp đồng về việc chuyển nhượng 160 lô đất cho 134 bị hại (có danh sách thống kê cụ thể phụ lục 04 kèm theo), chiếm đoạt là: 52.043.000.000 đồng (năm mươi hai tỷ không trăm bốn mươi ba triệu đồng).
Danh sách người bị hại, số tiền chiếm đoạt và số tiền đã trả lại như sau:
HỌ TÊN BỊ
SINH
SỐ TIỀN
SỐ TIỀN
NGƯỜI STT
HẠI
NĂM
ĐÃ NỘP
TRẢ LẠI
KÝ HĐ
Hoàng
1
Nguyễn Văn Đ
1992
469,000,000
0
Anh V
Hoàng
2 Nguyễn Đình Tr 1983
391,000,000
0
Anh V
Hoàng
3 Nguyễn Minh T 1988
313,000,000
0
Anh V
Hoàng
4
Cao Trường G
1959 1,226,000,000
285,200,000
Anh V
Hoàng
5
Bành Anh Th
1981
351,000,000
0
Anh V
Hoàng
6
Phùn Phúc V
1987
317,000,000
0
Anh V
Hoàng
7
Trần Đan T
1987
310,000,000
0
Anh V
Hoàng
8
Phan Văn D
1985
310,000,000
0
Anh V
Hoàng
9
Hồ A K
1990
310,000,000
10,000,000
Anh V
Hoàng 10 Lê Thị Minh H
1988
310,000,000
0
Anh V
Hoàng 11
Vũ Thị Th
1979
390,000,000
0
Anh V
Hoàng 12
Bùi Văn Q
1988
620,000,000
0
Anh V
Hoàng 13
Lê Văn H
1979
410,000,000
0
Anh V
Hoàng 14 Nguyễn Cẩm D 1989
310,000,000
30,000,000
Anh V
Nguyễn Đình
Hoàng 15
1981
352,000,000
0
Ng
Anh V
Hoàng 16
Lê Sỹ S
1989
310,000,000
0
Anh V
Hoàng 17
Hồ Vũ L
1993
307,000,000
10,000,000
Anh V
Hoàng 18
Trần Anh H
1989
385,000,000
80,000,000
Anh V
Lê Văn H
(Người được uỷ
Hoàng 19
1980
798,000,000
0
quyền: Phạm
Anh V
Thị T)
Nguyễn Thanh
Hoàng 20
1987
303,000,000
0
Ph
Anh V
Nguyễn Thị Mỹ
Hoàng 21
1987
652,000,000
0
H
Anh V
Hoàng 22 Nguyễn Hồng T 1992
330,000,000
33,000,000
Anh V
Hoàng 23
Trần Đăng Tr
1990
310,000,000
10,000,000
Anh V
Hoàng 24 Hoàng Tuấn A
1988
303,000,000
0
Anh V
Hoàng 25
Bùi Xuân S
1980
303,000,000
0
Anh V
Hoàng 26
Mai Thế T
1977
366,000,000
10,000,000
Anh V
Hoàng 27
Lê Văn H
1980
310,000,000
0
Anh V
Phạm Thành
Hoàng 28
1989
317,000,000
20,000,000
Tuấn V
Anh V
Hoàng 29 Nguyễn Văn T
1991
303,000,000
0
Anh V
Hoàng 30
Đỗ Thị B
1985
350,000,000
10,000,000
Anh V
Hoàng 31
Võ Văn T
1980
303,000,000
0
Anh V
Hoàng 32
Vũ Văn H
1987
310,000,000
0
Anh V
Hoàng 33
Lê Thị
1985 1,240,000,000
0
Anh V
Hoàng 34
Phạm Thị L
1988
310,000,000
10,000,000
Anh V
Hoàng 35
Nguyễn Thị T
1993
373,000,000
0
Anh V
Hoàng 36
Phạm Thị Ph
1974
330,000,000
0
Anh V
Hoàng 37
Lê Thanh T
1981
170,500,000
0
Anh V
Hoàng 38
Bùi Văn T
1970
329,000,000
10,000,000
Anh V
Hoàng 39 Hoàng Ngọc H
1988
310,000,000
10,000,000
Anh V
Hoàng 40
Trần Hữu T
1986
310,000,000
10,000,000
Anh V
Hoàng 41
Hoàng Thị T
1977
325,000,000
0
Anh V
Hoàng 42
Nguyễn Thị C
1973
350,000,000
10,000,000
Anh V
Hoàng 43
Ngô Minh Th
1979
353,000,000
10,000,000
Anh V
Hoàng 44 Nguyễn Văn L
1983
310,000,000
0
Anh V
Hoàng 45 Nguyễn Văn H
1989
310,000,000
0
Anh V
Hoàng 46
Phùng Văn L
1989
300,000,000
10,000,000
Anh V
Hoàng 47
Phạm Văn Ph
1983
382,000,000
76,400,000
Anh V
Hoàng 48 Nguyễn Đức T
1985
508,000,000
0
Anh V
Hoàng 49
Điều Trọng T
1977
930,000,000
0
Anh V
Hoàng 50 Nguyễn Hồng Đ 1983
310,000,000
62,000,000
Anh V
Trần Thị Thanh
Hoàng 51
1991
340,000,000
0
H
Anh V
Hoàng 52
Nguyễn Thị T
1952
740,000,000
0
Anh V
Hoàng 53 Nguyễn Hữu S
1987
606,000,000
20,000,000
Anh V
Nguyễn Thị
Hoàng 54
1974
310,000,000
62,000,000
Phương A
Anh V
Hoàng 55
Lê Văn T
1985
303,000,000
0
Anh V
Hoàng 56
Vòng Nhọc L
1988
594,000,000
0
Anh V
Hoàng 57
Mai Đăng K
1979
279,000,000
10,000,000
Anh V
Hoàng 58
Lỷ Chủ M
1995
397,000,000
0
Anh V
Hoàng 59
Lê Thị Ng
1986
588,000,000
0
Anh V
Hoàng 60 Nguyễn Xuân H 1983
355,000,000
0
Anh V
Hoàng 61
Trần Đức Q
1989
288,000,000
0
Anh V
Hoàng 62 Nguyễn Đức L
1973
303,000,000
0
Anh V
Hoàng 63 Trương Tấn Đ
1980
310,000,000
10,000,000
Anh V
Hoàng 64
Đặng Quế T
1978
337,000,000
0
Anh V
Hoàng 65 Huỳnh Minh Ng 1978
634,000,000
0
Anh V
Hoàng 66
Nguyễn Thị H
1983
240,000,000
10,000,000
Anh V
Hoàng 67 Nguyễn Tiến D 1982
340,000,000
68,000,000
Anh V
Hoàng 68
Phan Xuân Th
1985
303,000,000
10,000,000
Anh V
Hoàng 69
Lê Thiên L
1989
397,000,000
0
Anh V
Nguyễn Quốc
Hoàng 70
1982
310,000,000
0
Tr
Anh V
Hoàng 71
Ngô Văn H
1981
410,000,000
0
Anh V
Hoàng 72
Phạm Thế D
1985
620,000,000
0
Anh V
Hoàng 73
Phạm Đức H
1982
310,000,000
0
Anh V
Hoàng 74 Nguyễn Công S 1985
303,000,000
60,000,000
Anh V
Hoàng 75
Đào Văn S
1982
310,000,000
0
Anh V
Hoàng 76
Đỗ Thanh T
1986
295,000,000
95,000,000
Anh V
Hoàng 77
Nguyễn Thị L
1995
310,000,000
0
Anh Vui
Hoàng 78 Nguyễn Anh Th 1991
344,000,000
10,000,000
Anh V
Hoàng 79 Trương Mạnh L 1989
310,000,000
0
Anh V
Phan Thị Thúy
Hoàng 80
1987
298,000,000
0
H
Anh V
Huỳnh Thị
Hoàng 81
1983
333,000,000
80,000,000
Ngọc H
Anh V
Nguyễn Thị
Hoàng 82
1975
293,000,000
0
Thanh T
Anh V
Hoàng 83
Thái Văn Th
1981
310,000,000
10.000.000
Anh V
Hoàng 84 Trần Hồng Nh
1992
320,000,000
10,000,000
Anh V
Nguyễn Xuân
Hoàng 85
1987
333,000,000
10,000,000
Tr
Anh V
Hoàng 86 Huỳnh Tấn Vư
1990
318,000,000
0
Anh V
Hoàng 87 Trương Văn T
1982
403,000,000
80,600,000
Anh V
Hoàng 88 Nguyễn Văn A
1981
366,000,000
15,000,000
Anh V
Hoàng 89
Lê Hữu Ph
1982
620,000,000
20,000,000
Anh V
Nguyễn Thi Thu
Hoàng 90
1989
310,000,000
10,000,000
H
Anh V
Trần Thị Cẩm
Hoàng 91
1991
291,000,000
0
Nh
Anh V
Hoàng 92
Phạm Ngọc Q
1983
340,000,000
0
Anh V
Phùng Thị
Hoàng 93
1984
312,000,000
0
Phương L
Anh V
Hoàng 94
Vũ Văn Th
1988
319,000,000
0
Anh V
Hoàng 95 Trương Văn T
1990
314,000,000
95,000,000
Anh V
Hoàng 96
Lê Văn Ng
1987 1,860,000,000
0
Anh V
Nguyễn Thị L
Hoàng 97
1990
210,000,000
0
(Lâm Hốc S)
Anh V
Hoàng 98
Thái Thị Q
1984
310,000,000
0
Anh V
Hoàng 99
Lê Huy K
1978
303,000,000
0
Anh V
Hoàng 100 Nguyễn Văn T
1985
303,000,000
0
Anh V
Hoàng 101
Bùi Xuân T
1989
303,000,000
0
Anh V
Hoàng 102 Phan Minh V
1983
337,000,000
0
Anh V
Hoàng 103 Trần Đình Nh
1970
586,000,000
0
Anh V
Hoàng 104
Đặng Ích L
1982
293,000,000
0
Anh V
Hoàng 105
Lê Văn T
1988
303,000,000
0
Anh V
Nguyễn Đình
Hoàng 106
1985
310,000,000
0
Th
Anh V
Hoàng 107
Đặng Văn Tr
1987
310000000
10000000
Anh V
Hoàng 108
Trần Văn Ch
1993
325,000,000
10,000,000
Anh V
1992
Hoàng 109
Đặng Tất H
372,000,000
30,000,000
Anh V
Hoàng 110 Nguyễn Văn Q
1983
304,000,000
0
Anh V
Hoàng 111
Lê Anh T
1981 1,067,000,000
0
Anh V
Nguyễn 112 Huỳnh Văn U
1989
325,000,000
80,000,000
Thanh H
Nguyễn Thị
Nguyễn 113
1990
366,000,000
210,000,000
Kiều N
Thanh H
Phạm Vũ T
Hoàng 114
1982
365,000,000
83,000,000
(Lê Thị U)
Anh V
Nguyễn Phan
Hoàng 115
1986
310,000,000
70,000,000
Phi V
Anh V
Hoàng 116 Nguyễn Vũ M
1979
376,000,000
10,000,000
Anh V
Hoàng 117 Hà Bảo Thảo Q 1976
600,000,000
0
Anh V
Hoàng 118 Nguyễn Văn M 1979
324,000,000
0
Anh V
Hoàng 119 Dương Đình Th 1970
293,000,000
0
Anh V
Hoàng 120 Nguyễn Thị Ch 1980
303,000,000
0
Anh V
Hoàng 121 Nguyễn Thị Th 1989
244,000,000
244,000,000
Anh V
Hoàng 122 Phan Minh Tr
1987
388,000,000
388,000,000
Anh V
Hoàng 123 Trần Hùng D
1988
315,000,000
315,000,000
Anh V
Hoàng 124 Nguyễn Trí T
1977
340,000,000
408,000,000
Anh V
Hoàng 125 Nguyễn Thị H
1978
275,000,000
275,000,000
Anh V
Hoàng 126
Bùi Thị L
1977
370,000,000
440,000,000
Anh V
Hoàng 127 Đặng Xuân T
1987
310,000,000
327,600,000
Anh V
Hoàng 128 Đậu Xuân Ph
1991
310,000,000
325,000,000
Anh V
Hoàng 129 Nguyễn Cao Th 1986
306,500,000
326,500,000
Anh V
Hoàng 130
Phạm Thị H
1978
310,000,000
330,000,000
Anh V
Hoàng 131 Nguyễn Thị Ng 1964
326,500,000
359,150,000
Anh V
Hoàng 132 Nguyễn Văn L
1981
356,000,000
376,000,000
Anh V
Hoàng 133 Đỗ Thị Thu H
1979
354,000,000
354,000,000
Anh V
Hoàng 134
Lê Minh C
1975
306,500,000
325,000,000
Anh V
TỔNG
52,043,000,000 6,688,450,000
Sau khi bị phát hiện, bị tố giác, Nguyễn Thanh H cùng đồng bọn đã trả lại cho các bị hại tổng là: 6.688.450.000 đồng (sáu tỷ sáu trăm tám mươi tám triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng), còn chiếm đoạt số tiền chưa trả là: 45.636.300.000 đồng (bốn mươi lăm tỷ sáu trăm ba mươi sáu triệu ba trăm nghìn đồng), trong đó: Hoàng Anh V trực tiếp ký 158 hợp đồng chuyển nhượng 158 lô đất cho 132 bị hại, chiếm đoạt tổng số tiền: 51.352.000.000 đồng (năm mươi mốt tỷ ba trăm năm mươi hai triệu đồng). Đã trả lại cho bị hại tổng là: 6.398.450.000 đồng (sáu tỷ ba trăm chín mươi tám triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng), còn chiếm đoạt chưa trả là: 44.953.550.000 đồng (bốn mươi bốn tỷ chín trăm năm mươi ba triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng). Nguyễn Thanh H trực tiếp ký 02 hợp đồng chuyển nhượng 02 lô đất cho 02 bị hại, chiếm đoạt tổng là: 691.000.000 đồng (sáu trăm chín mươi mốt triệu). Đã trả lại cho bị hại là: 290.000.000 đồng (hai trăm chín mươi triệu đồng), còn chiếm đoạt số tiền chưa trả là: 401.000.000 đồng (bốn trăm lẻ một triệu đồng).
Trong thời gian xin đăng ký thực hiện dự án, Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V đại diện Công ty Thắng L ký đổi 04 hợp đồng chuyển nhượng cho 04 bị hại tại dự án “Khu dân cư Green City 2” (do Vui sử dụng pháp nhân Công ty Bình Dương CityLand ký trước đó) sang hợp đồng chuyển nhượng tại dự án “Khu nhà ở Phúc L 2”, thời gian ký kết hợp đồng và nội dung hợp đồng không thay đổi.
Ngày 12/08/2019, Nguyễn Thanh H ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất trên cho ông Vũ Minh T (sinh năm: 1984, HKTT: 92/2/16 Bình L, Ph 13, quận Bình Th, Thành phố Hồ Chí Minh) tại Văn phòng Công chứng Phú Th, địa chỉ: khu phố Đông T, phường Tân Đông H, thị xã Dĩ A (nay là thành phố Dĩ A), tỉnh Bình D. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Phú G đăng ký biến động điều chỉnh GCNQSDĐ sang cho ông Vũ Minh T vào ngày 17/9/2019. (Trên thực tế là hợp đồng chuyển nhượng giả cách để vay tiền của T, nội dung này liên quan đến vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại dự án Khu dân cư Phú Th, nêu tại phần sau).
5. Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh Vu Lê Văn C thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại dự án Khu dân cư Green City 3.
Ngày 05/11/2018, sau khi thu tiền của nhiều khách hàng tại các dự án trước, Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C tiếp tục thống nhất tiến hành đặt cọc mua đất nông nghiệp tại thửa đất số 66, 67, tờ bản đồ số 37, diện tích: 30.306 m2, địa chỉ: xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D được Ủy ban nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V915016 (số vào sổ cấp GCN: 01049QSDĐ/3263,3264/QĐ-UB) ngày 10/10/2002 cho hộ ông Ngô Sơn Ch với số tiền 10.000.000.000 đồng (mời tỷ đồng). Giá trị chuyển nhượng là: 24.700.000.000 đồng (hai mươi bốn tỷ bảy trăm triệu đồng).
Ngày 15/3/2019, tại Văn phòng Công chứng Bàu B, tỉnh Bình D, Nguyễn Thanh H mới được hộ ông Ngô Sơn Ch ký hợp đồng ủy quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 66, 67, tờ bản đồ số 37, diện tích: 30.306 m2, địa chỉ: xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D được Ủy ban nhân dân thị xã Bến C, tỉnh Bình D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V915016 (số vào sổ cấp GCN: 01049QSDĐ/3263,3264/QĐ-UB) ngày 10/10/2002 cho hộ ông Ngô Sơn Châu. Ngày 17/12/2018, ngày 09/01/2019 và ngày 27/02/2019 Nguyễn Thanh H đã trả hết cho ông Ch tổng là: 14.700.000.000 đồng (mười bốn tỷ bảy trăm triệu đồng).
Ngày 27/11/2018, Nguyễn Thanh H đại diện Công ty Bình Dương CityLand nộp đơn đăng ký dự án “Khu nhà ở Phố X 2” (khu đất xin dự án với diện tích: 5,9ha bao gồm dự án “Khu dân cư Green City 2” với diện tích: 28.833,1 m2 và khu đất liền kề thực hiện dự án “Khu dân cư Green City 3”: diện tích: 30.306 m2) đến Sở Xây Dựng tỉnh Bình Dương. Ngày 12/12/2018, Sở Xây Dựng tỉnh Bình Dương trả lời khu đất thực hiện đăng ký dự án không phù hợp quy hoạch. Ngày 13/5/2019, Nguyễn Thanh H đại diện Công ty Thắng L tiếp tục nộp đơn đăng ký dự án “Khu nhà ở Phúc L 2” (khu đất xin dự án với diện tích: 5,9 ha bao gồm dự án “Khu dân cư Green City 2” với diện tích: 28.833,1 m2 và dự án “Khu dân cứ Green City 3”, diện tích: 30,306 m2) đến Sở Xây Dựng tỉnh Bình D. Ngày 17/5/2019 Sở Xây Dựng tỉnh Bình D trả lời không có cơ sở xem xét. Ngày 17/5/2019, Sở Xây Dựng tỉnh Bình D ban hành văn bản số 1793/SXD-QLN về việc thông báo đăng ký đầu tư dự án Khu nhà ở Phúc L 2, nội dung văn bản thể hiện: Sở Xây Dựng tỉnh Bình D nhận thấy khu đất Công ty đăng ký đầu tư dự án hiện đang thuộc quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân (Nguyễn Thanh H; Ngô Sơn Ch) chưa thuộc quyền sử dụng của Công ty. Do đó, Sở Xây Dựng không có cơ sở để xem xét việc đăng ký làm chủ đầu tư dự án theo đề nghị của Công ty (Như vậy, dự án “Khu dân cư Green City 3”, sau này đổi tên là “Khu nhà ở Phúc L 2” không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép đầu tư theo quy định).
Ngay sau khi đặt cọc, Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V và Lê Văn C thống nhất đặt tên dự án là dự án “Khu dân cư Green City 3” trên thửa đất do hộ ông Châu làm chủ, lập sơ đồ dự án tổng cộng 342 lô đất, diện tích mỗi lô từ 90 đến 126,6 m2, lập bảng giá từng lô đất, lập mẫu hợp đồng ký kết với khách hàng và triển khai thông tin dự án cho toàn bộ nhân viên kinh doanh Công ty để chào bán nhằm chiếm đoạt tiền của các khách hàng và thỏa thuận vai trò, thống nhất thực hiện.
Nguyễn Thanh H là Tổng giám đốc Công ty Bình Dương CityLand, có vai trò tương tự như những dự án trước đó. Hoàng Anh V được phân công làm Phó Giám đốc phụ trách pháp lý vai trò như những dự án trước, đại diện Công ty Bình D CityLand ký giấy tờ giao dịch với khách hàng mua đất như: hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng, phiếu thu tiền. Lê Văn C là Trưởng phòng kinh doanh cũng như những dự án trước có nhiệm vụ quản lý các nhân viên phòng kinh doanh triển khai, tìm kiếm khách hàng và hỗ trợ nhân viên kinh doanh. …
Mặc dù thửa đất mới đặt cọc, chưa thực hiện xong việc chuyển quyền sử dụng đất và chưa được cơ quan nhà nước phê duyệt chủ trương thực hiện dự án nhưng từ tháng 11 năm 2018 đến cuối năm 2019, nhân viên đã đưa ra các thông tin gian dối do Hùng, Khoa, Vui và Công truyền đạt như trên cho 85 bị hại đồng ý làm hợp đồng để Vui đại diện Công ty Bình Dương CityLand và Công ty Thắng Lợi ký 102 hợp đồng chuyển nhượng 102 lô đất cho 85 bị hại tại dự án “Khu dân cư Green City 3” (có danh sách thống kê cụ thể phụ lục 05 kèm theo), sau này đổi tên dự án “Khu nhà ở Phúc Long 2”, chiếm đoạt tổng là: 36.654.300.000 đồng (ba mươi sáu tỷ sáu trăm năm mươi tư triệu ba trăm nghìn đồng).
Danh sách người bị hại, số tiền chiếm đoạt và số tiền đã trả lại như sau:
SIN
HỌ TÊN
H
SỐ TIỀN
SỐ TIỀN
NGƯỜI STT
KHÁCH HÀNG NĂ
ĐÃ NỘP
TRẢ LẠI
KÝ HĐ
M
Hoàng Anh
1
Nguyễn Văn Y 1993 351,000,000
0
V
Hoàng Anh
2
Trần Thị H
1989 325,000,000
0
V
3
Châu Văn C
1987 401,000,000
0
Hoàng Anh
V
Hoàng Anh
4
Chắng Minh T 1991 358,000,000
0
V
Hoàng Anh
5
Huỳnh Thanh H 1981 816,000,000
20,000,000
V
Hoàng Anh
6
Trương Thị H
1988 321,000,000
0
V
Nguyễn Phương
Hoàng Anh
7
1974 325,000,000
0
Ng
V
Hoàng Anh
8
Lê Anh T
1985 325,000,000
0
V
Hoàng Anh
9
Hà Thị M
1971 646,000,000
0
V
Hoàng Anh 10
Hoàng Tuấn A 1988 432,500,000
0
V
Hoàng Anh 11
Nguyễn Văn T 1984 332,000,000 215,000,000
V
Hoàng Anh 12
Nguyễn Văn C 1992 332,000,000
0
V
Hoàng Anh 13
Nguyễn Văn Đ 1991 332,000,000
0
V
Nguyễn Quốc H
Hoàng Anh 14
1987 388,000,000
10,000,000
Huỳnh Vũ L
V
Hoàng Anh 15
Phạm Công L
1987 351,000,000
0
V
Hoàng Anh 16
Lê Thị Bích N 1987 351,000,000
10,000,000
V
Hoàng Anh 17
Trần Văn Ph
1968 1,771,000,000 30,000,000
V
Hoàng Anh 18
Phạm Hồng N
1985 401,000,000
0
V
Hoàng Anh
Lê Ngọc D
1992 351,000,000
10,000,000
V
Hoàng Anh 20
Phan Thị H
1982 381,000,000
10,000,000
V
Hoàng Anh 21
Đoàn Quốc Th 1985 321,500,000
0
Vui
Hoàng Anh 22
Lê Ánh Tr
1991 325,000,000
10,000,000
V
Hoàng Anh 23
Bùi Thị H
1974 636,000,000
20,000,000
V
Hoàng Anh 24
Nguyễn Minh Th 1983 344,000,000
10,000,000
V
Hoàng Anh 25
Huỳnh Như Y
1988 351,000,000
0
V
Hoàng Anh 26
Phan Văn Q
1976 351,000,000
0
V
Hoàng Anh 27
Cao Thị C
1981 762,000,000
20,000,000
V
Hoàng Anh 28
Phan Quan L
1989 325,000,000
0
V
Nguyễn Thị Ngọc
Hoàng Anh 29
1974 344,000,000
10,000,000
L
V
Huỳnh Thị Thanh
1993
Hoàng Anh 30
Th
325,000,000
60,000,000
1979
V
Dương Chí T
Hoàng Anh 31
Lê Văn Th
1968 404,000,000
10,000,000
V
Hoàng Anh 32
Trần Thị Lê Ch 1987 325,000,000
0
V
Hoàng Anh 33
Nguyễn Văn L 1989 358,000,000
0
V
Hoàng Anh
Nguyễn Kim Tr 1988 332,000,000
V
Hoàng Anh 35
Nguyễn Công Ph 1983 351,000,000
0
V
Hoàng Anh 36
Nguyễn Thị Th 1992 325,000,000
0
V
Hoàng Anh 37
Phóng Quốc H 1980 325,000,000
0
V
Hoàng Anh 38
Thạch Văn T
1985 381,000,000
10,000,000
V
Hoàng Anh 39
Trần Ngọc K
1993 325,000,000
0
V
Hoàng Anh 40
Lê Thị Kim C
1965 325,000,000
10,000,000
V
Hoàng Anh 41
Dương Chí C
1984 276,300,000
0
V
Hoàng Anh 42
Trần Quốc T
1982 351,000,000
0
V
Hoàng Anh 43
Lỷ Quang S
1988 358,000,000
0
V
Hoàng Thanh
Hoàng Anh 44
1991 351,000,000
0
Chính
V
Hoàng Anh 45
Trịnh Thị L
1988 351,000,000
0
V
Hoàng Anh 46
Hà Văn B
1988 351,000,000
60,000,000
V
Hoàng Anh 47
Lê Thị Ng
1982 325,000,000
10,000,000
V
Hoàng Anh 48
Nguyễn Thị H 1978 351,000,000
10,000,000
V
Lê Văn T
1975 401,000,000
Hoàng A V
Hoàng Anh
Lê Thị Hồng M 1987 401,000,000
10,000,000
V
Hoàng Anh 51
Phạm Huy Th
1987 351,000,000
10,000,000
V
Hoàng Anh 52
Hoàng Thị V
351,000,000
10,000,000
V
Hoàng Anh 53
Nguyễn Thế L 1989 650,000,000
10,000,000
V 54
Ngô Xuân Q
1975 310,000,000
0
Hoàng Anh 55
Võ Thị L
1993 325,000,000
10,000,000 Hoàng Anh
Hoàng Anh 56
Trần Hưng L
1993 351,000,000
0
V
Hoàng Anh 57
Trần Văn H
1988 325,000,000
0
V
Nguyễn Thị
Hoàng Anh 58
1955 650,000,000
0
Thanh T
V
Hoàng Anh 59
Lê Đăng T
1988 328,500,000
0
V
Hoàng Anh 60
Tạ Văn Hùng
1978 332,000,000
0
V
Hoàng Anh 61
Phạm Thị Kim T 1979 436,000,000
0
V
Trần Tiến D
(Người được ủy
Hoàng Anh 62
1984 325,000,000 130,000,000
quyền: Nguyễn
V
Thị Th)
Hoàng Anh 63
Nguyễn Thị Ph 1988 325,000,000
32,500,000
V
Bùi Thị L
Hoàng Anh 64
(mẹ của bị hại
1962 358,000,000
0
V
Nguyễn Vă L)
Hoàng Anh
Nguyễn Quốc Đ 1984 411,000,000
V
Hoàng Anh 66
Nguyễn Đình V 1991 351,000,000
0
V
Hoàng Anh 67
Biện Văn N
1973 1,224,000,000
0
V
Hoàng Anh 68
Hồ Văn Ph
1992 351,000,000
10,000,000
V
Phan Thị Hoàng
Hoàng Anh 69
1982 351,000,000
0
L
V
Hoàng Anh 70
Phan Thị Tuyết V
1,975,000,000 50,000,000
V
Nguyễn Thị
Hoàng Anh 71
1988 381,000,000 157,200,000
Thành Đ
V
-Hoàng
Anh V 72
Nguyễn Trọng D 1990 401,000,000
10,000,000
- Tạ Ngọc
H
(ký đổi )
Hoàng Anh 73
Phạm Văn C
1990 358,000,000
0
V
Hoàng Anh 74
Nguyễn Văn L 1987 401,000,000
0
V
Hoàng Anh 75
Hoàng Văn H
1988 845,000,000
0
V
Hoàng Anh 76
Trần Văn Đ
1996 363,000,000
0
V
Hoàng Anh 77
Nguyễn Thị Nh 1988 374,500,000
0
V
Hoàng Anh 78
Trương Văn H 1994 358,000,000
0
V
Hoàng Anh
Nguyễn Văn T 1981 436,000,000
V
Hoàng Anh 80
Lê Hoàng C
1983 872,000,000
0
V
Nguyễn Tiến
Hoàng Anh 81
1982 358,000,000
0
Phương
V
Hoàng Anh 82
Hoàng Văn H
1984 325,000,000 336,400,000
V
Hoàng Anh 83
Trần Thị Ng
1978 300,000,000 295,000,000
V
Hoàng Anh 84
Lã Thanh T
1982 250,000,000 293,000,000
V
Hoàng Anh 85
Vũ Văn Ch
1982 230,000,000 230,000,000
V
TỔNG
36,654,300,000 2,139,100,000
Sau khi bị phát hiện, bị tố giác Nguyễn Thanh H và đồng phạm đã trả lại cho bị hại tổng là: 2.139.100.000 đồng (hai tỷ một trăm ba mươi chín triệu một trăm nghìn đồng), tiền còn chiếm đoạt chưa trả là: 34.564.600.000 đồng (ba mươi tư tỷ năm trăm sáu mươi tư triệu sáu trăm nghìn đồng), trong đó:
- Hoàng Anh V trực tiếp ký 102 hợp đồng chuyển nhượng 102 lô đất cho 85 bị hại, chiếm đoạt tổng: 36.654.300.000 đồng (ba mươi sáu tỷ sáu trăm năm mươi tư triệu ba trăm nghìn đồng). Đã trả lại cho bị hại tổng là: 2.139.100.000 đồng (hai tỷ một trăm ba mươi chín triệu một trăm nghìn đồng), còn chiếm đoạt chưa trả là: 34.564.600.000 đồng (ba mươi tư tỷ năm trăm sáu mươi tư triệu sáu trăm nghìn đồng). Trong đó: Hoàng Anh V ký 01 Hợp đồng tên dự án ban đầu là Phúc Long 2, sau đó Tạ Ngọc H ký đổi hợp đồng từ Phúc Long 2 sang Green City 3 (cùng vị trí dự án) chuyển nhượng 01 lô đất cho 01 bị hại, chiếm đoạt: 401.000.000 đồng (bốn trăm lẻ một triệu đồng). Đã trả lại số tiền trả lại cho bị hại: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), còn chiếm đoạt chưa trả là: 391.000.000 đồng (ba trăm chín mươi mốt triệu đồng).
Ngày 05/8/2019, Nguyễn Thanh H vay của ông Nguyễn Chí C (sinh năm 1956, HKTT: K1/21 lô A 1, Tổ 14, phường Hiệp Th thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D) 6.000.000.000 đồng (sáu tỷ đồng) bằng hình thức ký uỷ quyền toàn quyền đối với thửa đất trên tại Văn phòng Công chứng Bàu B, tỉnh Bình D. Ngày 02/01/2020, Nguyễn Thanh H vay của ông Trần Văn Q (sinh năm 1984, HKTT: thôn Thượng H, xã Phú L, huyện Can L, tỉnh Hà T và bà Nguyễn Thị C (sinh năm 1974, HKTH: Khu phố 4, phường Thới H, thị xã Bến C, tỉnh Bình D) 10.000.000.000 đồng (mười tỷ đồng). H đề nghị ông Công ký hợp đồng uỷ quyền cho ông Q và bà Ch tại Văn phòng Công chứng Sở Sao, địa chỉ: số 1459 Đại lộ Bình D, Khu phố 4, phường Hiệp A, thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D, để đảm bảo hợp đồng vay.
6. Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại dự án Khu dân cư Phúc L City.
Ngày 02/10/2018, sau khi thu được tiền bán đất các dự án trước, Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C thống nhất tiến hành đặt cọc và kêu Tạ Ngọc H là người trực tiếp đặt cọc: 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) mua thửa đất số 06, tờ bản đồ số 57, diện tích: 15.897 m2 tại xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D của bà Võ Thị Kim Ph với giá trị mua bán là: 6.480.000.000 đồng (sáu tỷ bốn trăm tám mươi triệu đồng). Ngày 07/12/2018, bà Võ Thị Kim Ph và ông Huỳnh Đinh Ngọc H ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho Lê Văn C, nhận toàn bộ số tiền còn lại là 6.180.000.000 đồng (sáu tỷ một trăm tám mươi triệu đồng). Ngày 10/12/2018, bà Phượng, ông H tiếp tục ký Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Lê Văn C, nội dung thay đổi: giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là: 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) sang giá chuyển nhượng là 6.480.000.000 đồng (sáu tỷ bốn trăm tám mươi triệu đồng). Ngày 24/12/2018, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Phú G đăng ký biến động điều chỉnh sang tên cho Lê Văn C.
Ngày 13/12/2019, Hoàng Anh Vui đại diện Công ty Thành C nộp đơn đến Sở Xây Dựng tỉnh Bình D để đăng ký về việc làm chủ đầu tư dự án Khu nhà ở Thành C 2, xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D. Ngày 06/01/2020, Sở Xây Dựng tỉnh Bình D ban hành công văn số 38/SXD-QLN gửi Công ty Thành C, nội dung công văn trả lời: hiện tại khu đất không phù hợp để đầu tư xây dựng dự án phát triển nhà ở do diện tích đất theo quy hoạch được bố trí sử dụng vào mục đích đất trồng cây lâu năm, nên việc xem xét hồ sơ dự án Khu nhà ở Thành C 2 tại xã Phước H, huyện Phú G là không có cơ sở xem xét. (Như vậy, dự án “Khu dân cư Phúc L City”, sau này đổi tên là “Khu nhà ở Thành C 2” không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép đầu tư theo quy định).
Ngay sau khi đặt cọc, Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C thống nhất đặt tên dự án là “Khu dân cư Phúc L City” trên thửa đất của bà Ph, lập sơ đồ dự án tổng số 104 lô đất, diện tích mỗi lô 125 m2, lập bảng giá từng lô đất, lập mẫu hợp đồng ký kết với khách hàng và triển khai thông tin dự án cho toàn bộ nhân viên kinh doanh Công ty để chào bán nhằm chiếm đoạt tiền của các khách hàng và thỏa thuận phân công vai trò, thống nhất thực hiện.
Nguyễn Thanh H là tổng giám đốc Công ty Bình Dương CityLand vai trò cũng tương tự các dự án trước. Hoàng Anh V được phân công làm Phó Giám đốc phụ trách pháp lý để đứng đại diện Công ty Bình Dương CityLand để ký giấy tờ giao dịch với khách hàng mua đất: hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng, phiếu thu tiền. Lê Văn C trong dự án này là người trực tiếp đứng tên đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để triển khai dự án “Khu dân cư Phúc L City” và phân công là Trưởng phòng kinh doanh có nhiệm vụ như những dự án trước và tham gia ký hợp đồng với khách hàng.
Mặc dù thửa đất mới đặt cọc, chưa thực hiện xong việc chuyển quyền sử dụng đất và chưa được cơ quan nhà nước phê duyệt chủ trương thực hiện dự án nhưng từ tháng 10/2018 đến 12/2018, nhân viên đã đưa ra các thông tin gian dối do H, V và C truyền đạt như trên cho 69 bị hại đồng ý làm hợp đồng để V, Công đại diện Công ty Bình Dương CityLand ký 81 hợp đồng về việc chuyển nhượng 81 lô đất cho 69 bị hại (có danh sách thống kê cụ thể Phụ lục số 06 kèm theo), chiếm đoạt tổng cộng: 19.722.500.000 đồng (mười chín tỷ bảy trăm hai mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Danh sách người bị hại, số tiền chiếm đoạt và số tiền đã trả lại như sau:
BỊ
Họ tên
SINH
SỐ TIỀN ĐÃ
SỐ TIỀN CTY ĐÃ STT
CÁOKÝ
KH
NĂM
NỘP
TRẢ
HĐ
Nguyễn
Hoàng
1
1983
476,500,000
0
Thị Nh
Anh V
Vũ
Hoàng
2
Thành
1979
236,500,000
10,000,000
Anh V
Ph
Cao
Hoàng
3
1991
240,000,000
10,000,000
Văn L
Anh V
Lê
Hoàng
4
Quang
1986
270,000,000
0
Anh V
Ph
Trần
Thị
Hoàng
5
1985
240,000,000
0
Thanh
Anh V
Tr
Nguyễn
Đình
Hoàng
6
Ph
1990
270,000,000
10,000,000
Anh V
Nguyễn
Thị Th
1978
270,000,000
Hà Thị
Hoàng
Đ
Anh V
Phạm
Hoàng
8
1987
233,000,000
0
Văn Đ
Anh V
Phan
Hoàng
9
1991
236,500,000
0
Văn S
Anh V
Đặng
Hoàng 10
1979
240,000,000
0
Thị R
Anh V
Trịnh
Hoàng 11
1988
240,000,000
10,000,000
Thị L
Anh V
Trần
Lê Văn 12
1992
270,000,000
0
Thị C
C
Đào
Hoàng 13
1989
270,000,000
0
Kim H
Anh V
Đào
Hoàng 14
1993
240,000,000
0
Văn H
Anh V
Phạm
Hoàng 15
1989
240,000,000
0
Văn L
Anh V
Nguyễn
Hoàng 16
1984
200,000,000
10,000,000
Đình V
Anh V
Phạm
Hoàng 17
1981
270,000,000
10,000,000
Ngọc D
Anh V
Nguyễn
Hoàng 18
1984
220,000,000
0
Văn D
Anh V
Khổng
Hoàng 19
1987
540,000,000
20,000,000
Thị T
Anh V
Nguyễn
Hoàng 20
1987
236,500,000
0
Văn L
Anh V
Vũ Thị
Hoàng 21
1981
240,000,000
0
Ng
Anh V
Nguyễn
Hoàng 22
1981
300,000,000
10,000,000
M Hiếu
Anh V
Nguyễn
Hoàng 23
Hoàng
1993
240,000,000
0
Anh V
S
Nguyễn
Hoàng 24
1991
240,000,000
0
Minh H
Anh V
Lê Thị
Hoàng 25
1985
200,000,000
40,000,000
N
Anh V
Phạm
Hoàng 26
1990
240,000,000
0
Thị B
Anh V
Nguyễn
Hoàng 27
1977
240,000,000
10,000,000
Đình T
Anh V
Trần
Thị
Hoàng 28
1976
270,000,000
0
Phương
Anh V
L
Nguyễn
Thị Th
(Ủy
Hoàng 29
quyền
1994
505,000,000
0
Anh V
cho
Phan
Văn D)
Trần
Hoàng 30
1982
1,080,000,000
0
Văn T
Anh V
Võ Thị
Hoàng 31
1977
270,000,000
0
K
Anh V
Nguyễn
Hoàng 32
1976
240,000,000
0
Sỹ V
Anh V
Đoàn
Hoàng 33
Hữu
1983
300,000,000
0
Anh V
Tài
Phạm
Hoàng 34
1979
240,000,000
0
Thị D
Anh V
Tạ
Hoàng 35
Vĩnh
1990
240,000,000
0
Anh V
Ph
Nguyễn
Hoàng 36
1979
236,500,000
0
Văn L
Anh V
Hà
Hoàng 37
Phước
1982
240,000,000
0
Anh V
C
Nguyễn
Hoàng 38
1987
220,000,000
10,000,000
Thị Th
Anh V
Trần
Hoàng 39
Quyết
1987
230,000,000
10,000,000
Anh V
Th
Phạm
Hoàng 40
Hoàng
1969
436,000,000
0
Anh V
S
Hoàng
Hoàng 41
1979
530,000,000
0
Thị Ph
Anh V
Nguyễn
Hoàng 42
1990
473,000,000
20,000,000
Nhật A
Anh V
Trần
Hoàng 43
1994
220,000,000
0
Văn H
Anh V
Hà Văn
Hoàng 44
1986
220,000,000
0
Ch
Anh V
Nguyễn
Hoàng 45
1989
240,000,000
0
Thị H
Anh V
Võ
Hoàng 46
Phan
1995
266,500,000
0
Anh V
Ng
Võ
Hoàng 47
1992
533,000,000
0
Phan T
Anh V 48
1983
270,000,000
0
Nguyễn
Hoàng
Th A
Anh V
Nguyễn
Hoàng 49
1975
220,000,000
0
Thị Th
Anh V
Lê Thị
Hoàng 50
1989
270,000,000
0
Ngọc L
Anh V
Lê Thái
Hoàng 51
1983
202,000,000
10,000,000
S
Anh V
Trần
Hoàng 52
1987
220,000,000
0
Văn Nh
Anh V
Phạm
Hoàng 53
1975
216,500,000
0
Thị B
Anh V
Trần
Hoàng 54
1976
220,000,000
0
Thị D
Anh V
Dương
Hoàng 55
Mãn
1990
240,000,000
0
Anh V
Ng
Phạm
Hoàng 56
1985
240,000,000
0
Thị Th
Anh V
Nguyễn
Hoàng 57
1979
540,000,000
10,000,000
Duy A
Anh V
Bùi Thị
Hoàng 58
1989
220,000,000
0
Xuân A
Anh V
Nguyễn
Thị
Hoàng 59
1985
240,000,000
0
Nguyên
Anh V
S
Lê Văn
Hoàng 60
1986
235,000,000
0
V
Anh V
Trịnh
Hoàng 61
1976
250,000,000
65,000,000
Văn G
Anh V
Hoàng
Trần 62
1974
480,000,000
20,000,000
Anh V
Thị
Kim Y
Hoàng
Hoàng 63
1980
240,000,000
0
Văn Th
Anh V
Võ
Hoàng 64
1984
240,000,000
0
Ngọc Y
Anh V
Lê
Hoàng 65
Hoàng
1983
240,000,000
0
Anh V
Ch
Trần
1972
Hoàng 66
Văn C
270,000,000
0
1974
Anh V
Lê Thị
Đào
Hoàng 67
Hồng
1982
270,000,000
270,000,000
Anh V
V
Lê Thị
Hoàng 68
Ngọc
1992
50,000,000
50,000,000
Anh V
Ph
Đỗ Thị
Hoàng 69
1979
220,000,000
220,000,000
L
Anh V
19,722,500,000
825,000,000
Sau khi bị phát hiện, bị tố giác, Nguyễn Thanh H cùng đồng phạm đã trả lại cho các bị hại tổng là: 285.000.000 đồng (hai trăm tám mươi lăm triệu đồng), tiền chiếm đoạt chưa trả là: 18.897.500.000 đồng (mười tám tỷ tám trăm chín mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng), trong đó: Hoàng Anh V trực tiếp ký 80 hợp đồng với 68 bị hại, chiếm đoạt tổng là: 19.452.500.000 đồng (mười chín tỷ bốn trăm năm mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng). Đã trả lại cho bị hại: 825.000.000 đồng (tám trăm hai mươi lăm triệu đồng), còn chiếm đoạt số tiền chưa trả là: 18.897.500.000 đồng (mười tám tỷ tám trăm chín mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Lê Văn C ký 01 hợp đồng với 01 bị hại, chiếm đoạt số tiền: 270.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi triệu đồng). Đã trả lại cho bị hại: 00 đồng, còn chiếm đoạt số tiền chưa trả là: 270.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi triệu đồng).
Trong quá trình bán đất tại dự án này, ngày 11/10/2018, Uỷ ban nhân dân xã Phước H lập biên bản về việc Công ty Bình Dương CityLand đổ đá làm đường do xã quả lý sai quy định tại khu đất được đặt tên dự án “Khu dân cư Phúc L City”. Lê Văn C đã đại diện bên vi phạm theo sự hướng dẫn của Nguyễn Thanh H đứng ra giải quyết khai là đại diện Công ty gỗ “Đại Ph” tại Dĩ An (Công tự khai ra, không có thật) ký biên bản vi phạm nhằm mục đích không làm ảnh hưởng đến Công ty Bình Dương CityLan giao bán đất. Sau đó, từ ngày 18/10/2018 đến ngày 11/12/2018 Hoàng Anh V, Lê Văn C vẫn ký hợp đồng bán đất chiếm đoạt tài sản của bị hại như nêu trên.
Ngày 19/7/2019, Lê Văn C vay của ông Lê Minh H (sinh năm 1985, nơi cư trú: Ấp 5, xã Vĩnh T, thị xã Tân U, tỉnh Bình D) 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng) bằng hình thức viết giấy vay tiền và ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho cho ông Hưng tại Văn phòng Công chứng Thành Phố Mới, tỉnh Bình D.
7. Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại dự án Khu dân cư Phú Th (giai đoạn 1) – tại Bình Phước.
Ngày 22/5/2019, UBND tỉnh Bình Phước ban hành Quyết định số 1044/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá khởi điểm để tổ chức bán đấu giá quyền sử dụng đất khu dân cư Phú Th (giai đoạn 1), phường Tân Ph, thành phố Đồng X. Chủ tài sản: Sở Xây dựng tỉnh Bình Ph. Tài sản đấu giá là Quyền sử dụng đất khu dân cư Phú Thịnh (giai đoạn 1) bao gồm 04 cụm BT1, BT2, BT3, LK4 (83 lô) với tổng diện tích 16.998,3 m2, giá khởi điểm 184.391.697.958đ (một trăm tám mươi tư tỷ ba trăm chín mươi mốt triệu sáu trăm chín mươi bảy nghìn chín trăm năm mươi tám đồng).
Ngày 19/8/2019, Sở Xây dựng tỉnh Bình Ph ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản số 04/HĐ-DVĐGTS với Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản Bình Phước về việc thuê Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản Bình Ph làm đơn vị tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất Khu dân cư Phú Th. Trong ngày 19/8/2019, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản Bình Phước ban hành thông báo bán đấu giá tài sản và Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất Khu dân cư Phú Th. Theo nội dung quy chế thì người tham gia đấu giá phải nộp tiền đặt trước tương ứng 15% giá khởi điểm của tài sản, trường hợp trúng đấu giá thì số tiền đặt trước sẽ được chuyển thành tiền đặt cọc để đảm bảo việc người mua thực hiện nghĩa vụ tài chính của người trúng đấu giá theo quy định. Về quy định thanh toán tiền mua tài sản: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền của Cơ quan thuế người trúng đấu giá tài sản phải nộp số tiền đã đấu giá trúng vào tài khoản của kho bạc nhà nước tỉnh Bình Ph. Trường hợp người trúng đấu giá không hoàn thành nghĩa vụ mua tài sản thì không được nhận lại số tiền đặt trước (đặt cọc) theo quy định.
Ngày 12/9/2019, Trung tâm đấu giá tài sản Bình Ph đã tổ chức phiên đấu giá quyền sử dụng đất khu dân cư Phú Th (giai đoạn 1) nhóm I bao gồm 04 cụm: BT1, BT2, BT3, LK4 (83 lô), kết quả đấu giá ông Vũ Minh Tâm, số CCCD 022.084.005.911 do Cục CS QLHC về TTXH cấp ngày 04/6/219 là người trúng đấu giá với giá đấu trúng là 186.236.000.000 đồng (một trăm tám mươi sáu tỷ hai trăm ba mươi sáu triệu đồng).
Ngày 23/9/2019, UBND tỉnh Bình Ph ban hành Quyết định số 1979/QĐ-UBND về việc phê duyệt kết quả bán đấu giá quyền sử dụng đất cụm BT1, BT2, BT3, LK4 thuộc khu dân cư Phú Th giai đoạn 1.
Sau khi trúng đấu giá ông Vũ Minh T đã không thực hiện nghĩa vụ tài chính của người trúng đấu giá theo quy định nên ngày 06/1/2020, UBND tỉnh Bình Phước ban hành Quyết định số 14/QĐ-UBND về việc huỷ kết quả bán đấu giá quyền sử dụng đất cụm BT1, BT2, BT3, LK4 thuộc khu dân cư Phú Th đối với ông Vũ Minh T và tiến hành làm các thủ tục để tổ chức đấu giá lại toàn bộ khu dân cư Phú Thịnh, giao cho Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Ph là đơn vị chủ tài sản.
Ngày 13/5/2021, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản Bình Ph đã ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản số 03/HĐ-DVĐGTS với Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Ph nội dung hợp đồng: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Ph nội dung hợp đồng: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Phước giao Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bình Ph được thực hiện việc đấu giá quyền sử dụng đất 360 lô đất ở đô thị riêng lẻ, 01 lô đất thương mại dịch vụ và 01 lô đất bãi xe (trong đó bao gồm cụm BT1, BT2, BT3, LK4 là 83 lô đất) giá khởi điểm: 673.888.152.100 đồng (sáu trăm ba mươi bảy tỷ tám trăm tám mươi tám triệu một trăm năm mươi hai nghìn một trăm đồng).
Từ ngày 07/5/2021 đến ngày 09/5/2021 Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bình P đã tổ chức bán đấu giá tài sản gồm: 362 thửa đất thuộc khu dân cư Phú Th. Kết quả đã tổ chức bán đấu giá thành công toàn bộ các lô đất nêu trên với tổng giá trị là 695.469.853.000 đồng (sáu trăm chín mươi lăm tỷ bốn trăm sáu chín triệu tám trăm năm mươi ba nghìn đồng).
Ngày 04/6/2021, UBND tỉnh Bình Ph đã ban hành Quyết định số 1466/QĐ-UBND về việc phê duyệt kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất 362 thửa đất thuộc khu dân cư Phú Th (giai đoạn 1). Hiện nay toàn bộ 362 thửa đất do Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản Bình Ph tổ chức đấu giá thành công đã được đơn vị chủ tài sản bàn giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các cá nhân, tổ chức trúng đấu giá. (Như vậy, dự án “Khu dân cư Phú Th”, Nguyễn Thanh H và đồng phạm hoàn toàn không có quyền phân phối, chuyển nhượng).
Sau khi bị phát hiện hành vi lừa đảo tại các dự án trước, bị các khách hàng đòi tiền nhưng Nguyễn Thanh H và đồng phạm không có tiền trả, đầu tháng 9/2019, H biết được Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bình Phước sẽ tổ chức phiên đấu giá quyền sử dụng đất khu dân cư Phú Th (giai đoạn 1) gồm 83 lô đất được phân thành 04 cụm BT1, BT2, BT3, LK4. Mặc dù biết không đủ nguồn tài chính, H vẫn bàn bạc với Hoàng Anh V và Lê Văn C sử dụng 03 thửa đất gồm:
Thửa đất số 14, 15, tờ bản đồ số 4, tại xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D do Hoàng Anh V đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Thửa đất số 126, tờ bản đồ số 30, địa chỉ: xã Thanh A, huyện Dầu T, tỉnh Bình D do bà Đinh Thị Thu H đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà H đã ký hợp đồng ủy quyền sử dụng đất cho Nguyễn Thanh H; Thửa đất số 2650, tờ bản đồ số 37, địa chỉ xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D do Nguyễn Thanh H đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
(là các thửa đất thực hiện dự án khu dân cư Happy Home; Happy Home 2; Green City 2 nêu ở trên)
Để thế chấp cho Vũ Minh T sinh năm: 1984, địa chỉ: 95/2/16 Bình L phường 13, quận Bình Th, Thành phố Hồ Chí Minh để vay số tiền 26.659.000.000 đồng (hai mươi sáu tỷ sáu trăm năm mươi chín triệu đồng) với lãi xuất 07% một tháng và được Vũ Minh T đồng ý với điều kiện thế chấp bằng việc ký kết 03 hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ sử dụng đặt cọc tham gia đấu giá. Khi thế chấp T yêu cầu phải làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng các thửa đất cho T và để T đứng tên tham gia đấu giá thay cho Nguyễn Thanh H. Qua bàn bạc Hùng đồng ý theo yêu cầu của T.
Ngày 04/9/2019, Vũ Minh T đã nộp đặt trước số tiền 26.659.000.000 đồng (hai mươi sáu tỷ sáu trăm năm mươi chín triệu đồng) và Nguyễn Thanh H nộp 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản Bình Ph. Tổng số tiền là 27.659.000.000 đồng (hai mươi bảy tỷ sáu trăm năm mươi chín triệu đồng). Ngày 12/9/2019, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản Bình Ph tổ chức phiên đấu giá quyền sử dụng đất khu dân cư Phú Th gồm 83 lô đất được phân thành 04 cụm BT1, BT2, BT3, LK4. Phiên đấu giá có 02 khách hàng tham gia đấu giá là ông Vũ Minh T và bà Khúc Hồng H, địa chỉ: 80 Hà Đ, phường Trung Mỹ T, q 12, thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả đấu giá, ông Vũ Minh T là người trúng đấu giá với giá đấu trúng là: 186.236.000.000 đồng (một trăm tám mươi sáu tỷ hai trăm ba mươi sáu triệu đồng).
Căn cứ vào kết quả đấu giá, ngày 23/9/2019, UBND tỉnh B Phước ban hành Quyết định số 1979/QĐ-UBND về việc phê duyệt kết quả bán đấu giá quyền sử dụng đất cụm BT1, BT2, BT3, LK4 thuộc khu dân cư Phú Th giai đoạn 1 đối với ông Vũ Minh T theo quy định.
Ngày 04/10/2019, Cục thuế tỉnh Bình Ph có Thông báo số 2858/TB-CT về việc thông báo nghĩa vụ tài chính ông Vũ Minh T phải nộp khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất với số tiền 186.236.000.000 đồng (một trăm tám mươi sáu tỷ hai trăm ba mươi sáu triệu đồng). Như vậy, trừ đi số tiền ông Tâm đã đặt cọc là 27.659.000.000 đồng (hai mươi bảy tỷ sáu trăm năm mươi chín triệu đồng) thì ông T và H phải nộp thêm số tiền là 158.577.000.000 đồng (một trăm năm mươi tám tỷ năm trăm bảy mươi bảy triệu đồng) vào kho bạc Nhà nước tỉnh Bình Ph.
Sau khi UBND tỉnh Bình Ph ban hành Quyết định phê duyệt kết quả đấu giá và Cục thuế tỉnh Bình Ph thông báo nghĩa vụ tài chính đối với gồm 83 lô đất được phân thành 04 cụm BT1, BT2, BT3, LK4, mặc dù chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính để mua 83 lô đất khu dân cư Phú Thịnh theo quy định và về thủ tục pháp lý Nguyễn Thanh H không được ông Vũ Minh Tâm ký ủy quyền cho Công ty Thắng L do H làm Tổng Giám đốc được chuyển nhượng 83 lô đất đã Tâm trúng đấu giá. Nguyễn Thanh H làm giả hợp đồng thỏa thuận phân phối số 1001/HĐTTPP/BP ngày 24/9/2019 với nội dung: Vũ Minh T giao cho Công ty Thắng Lợi do Nguyễn Thanh H làm Tổng giám đốc phân phối chính thức 83 lô đất thuộc các cụm BT1, BT2, BT3, LK4 khu dân cư Phú Th và làm giả giấy ủy quyền thu tiền số 1001/GUQTT ngày 24/9/2019 với nội dung: ông Vũ Minh T giao cho Công ty Thắng Lơ thu tiền khách hàng mua đất khu dân cư Phú Thịnh.
Sau khi làm giả 02 tài liệu trên H đưa cho ông Lê Quang L - Giám đốc Công ty CP ĐT và dịch vụ BĐS Đất X Central (sau đây gọi tắt là Công ty Đất X), địa chỉ: Phường Lái Th, thành phố Thuận A, tỉnh Bình D xem, đồng thời H cam kết Công ty Thắng L đủ điều kiện pháp lý chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 83 lô đất khu dân cư Phú Th. Do tin tưởng nên Lê Quang L thống nhất ký hợp đồng dịch vụ môi giới bất động sản số 01/2019/HĐDV/ĐX-TL ngày 04/10/2019 và Phụ lục 1 Chỉ tiêu bán hàng – Phí môi giới – Ký quỹ với Nguyễn Thanh H. Nội dung hợp đồng và phụ lục Công ty Đất X sẽ được hưởng 08% giá trị mỗi lô đất bán được cho Công ty Thắng Lợi nhưng Công ty Đất X phải ký quỹ thiện chí trước cho Công ty Thắng L với số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Ngày 07/10/2019, Công ty Đất X chuyển số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) vào số tài khoản 1071000574411 của Công ty Thắng L, H đã sử dụng số tiền này vào mục đích cá nhân và chi trả cho các cá nhân mua dự không có thật trước đó.
Sau khi ký hợp đồng, từ ngày 02/11/2019 đến ngày 27/11/2019 các nhân viên Công ty Đất X đã môi giới cho Công ty Thắng Lơ đại diện là Nguyễn Thanh H ký hợp đồng bán cho 03 khách hàng mua 04 thửa đất gồm:
- Ngày 02/11/2019, Nguyễn Thanh H đại diện Công ty Thắng L ký hợp đồng cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 01/2019/HĐCKCNQSDĐ với ông Lê Hữu Ng, địa chỉ: 55 Lý Tự Tr, phường Mỹ L, thành phố Long X, tỉnh An G, nội dụng hợp đồng: ông Lê Hữu Ng mua lô đất ký hiệu BT02-01, diện tích 228,6 m2 thuộc dự án khu dân cư Phú Th với giá tiền 3.543.300.000 đồng (ba tỷ năm trăm bốn mươi ba triệu ba trăm nghìn đồng). Đến ngày 18/11/2019, Nguyễn Thanh H tiếp tục đại diện Công ty Thắng L ký hợp đồng cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 02/2019/HDCKCNQSDĐ với ông Lê Hữu N, nội dung hợp đồng: ông Lê Hữu N mua lô đất ký hiệu BT2-02, diện tích 232,7 m2 thuộc dự án khu dân cư Phú Thịnh với giá tiền 3.490.500.000 đồng (ba tỷ bốn trăm chín mươi triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng số tiền Nguyễn Thanh H đã đại diện Công ty Thắng L ký 02 hợp đồng bán đất cho ông Lê Hữu Ng là 7.033.800.000 đồng (bảy triệu không trăm ba mươi ba triệu tám trăm nghìn đồng). Sau khi ký hợp đồng, ông Ngân đã thanh toán trước cho Nguyễn Thanh H: 6.440.119.000 đồng (sáu tỷ bốn trăm bốn mươi triệu một trăm mười chín nghìn đồng), còn lại: 593.681.000 đồng (năm trăm chín mươi ba triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn đồng) chưa thanh toán.
- Ngày 15/11/2019, Nguyễn Thanh H đại diện Công ty Thắng L ký hợp đồng cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 03/2019/HĐCKCNQSDĐ với ông Đỗ Xuân Th, địa chỉ: phường Thới H, Thị xã Bến C, tỉnh Bình D. Nội dung hợp đồng: ông Đỗ Xuân Th mua 01 lô đất ký hiệu LK4-10, diện tích 129,6m2 thuộc dự án khu dân cư Phú Th với tổng số tiền 1.550.000.000 đồng (một tỷ năm trăm năm mươi triệu đồng). Sau khi ký hợp đồng, ông Th đã thanh toán trước cho Nguyễn Thanh H số tiền: 950.000.000 đồng (chín trăm năm mươi triệu đồng), còn lại 550.000.000 đồng (năm trăm năm mươi triệu đồng) chưa thanh toán.
- Ngày 27/11/2019, Nguyễn Thanh H đại diện Công ty Thắng L ký hợp đồng cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 04/2019/HĐCKCNQSDĐ với ông Nguyễn Kim Th, địa chỉ: B811, Cao ốc Saigonres Plaza, Phường 26, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung hợp đồng: ông Nguyễn Kim Th mua 01 lô đất ký hiệu LK4-20, diện tích 120,2 m2 với tổng số tiền 1.803.000.000 đồng (một tỷ tám trăm lẻ ba triệu đồng). Sau khi ký hợp đồng, ông Th đã thanh toán trước cho Nguyễn Thanh H số tiền: 766.650.000 đồng (bảy trăm sáu mươi sáu triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng), còn lại 1.036.350.000 đồng (một tỷ không trăm ba mươi sáu triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) chưa thanh toán.
Tổng số tiền Nguyễn Thanh H thu được từ việc bán 04 lô đất cho ông Ngân, ông Th và ông Th do Công ty Đất X môi giới là: 8.156.769.000 đồng (tám tỷ một trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi chín ngàn đồng).
Toàn bộ 04 Hợp đồng Nguyễn Thanh H đại diện Công ty Thắng L ký với ông Lê Hữu Ng, ông Đỗ Xuân Th và ông Nguyễn Kim Th đều thể hiện cam kết: Về nguồn gốc tài sản là quyền sử dụng đất do ông Vũ Minh T là người trúng đấu giá. Công ty Thắng L do H làm Tổng giám đốc được ông T ủy quyền ký hợp đồng bán đất và thu tiền của khách hàng. Khách hàng phải thanh toán 95% giá trị hợp đồng trong vòng 02 tháng kể từ ngày ký hợp đồng, 5% còn lại sẽ thanh toán khi khách hàng nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không quá 03 tháng kể từ ngày khách hàng ký hợp đồng cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, trước thời điểm Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản Bình P tổ chức đấu giá dự án Khu dân cư Phú Th (ngày 12/9/2019) thì vào ngày 24/02/2019, Nguyễn Thanh H cùng Hoàng Anh V đã đưa ra thông tin gian dối về việc lô đất ký hiệu nền C, ô số 01 diện tích 290,4 m2 thuộc Khu dân cư Phú Th đã được Công ty Thắng L trúng thầu từ UBND tỉnh Bình Ph để ký hợp đồng thỏa thuận đặt cọc ngày 25/02/2019 với bà Nguyễn Thùy D, sinh năm 1989, HKTT: ấp Ông Th, xã Cây Tr 2, huyện Bàu B, tỉnh Bình D với giá 3.500.000.000 đồng (ba tỷ năm trăm triệu đồng). Bà D đã thanh toán cho Nguyễn Thanh H 02 lần với tổng số tiền 2.700.000.000 đồng (Hai tỷ bảy trăm triệu đồng). Nội dung hợp đồng cam kết đến ngày 11/5/2019 bà D sẽ thanh toán hết số tiền theo hợp đồng đã ký kết và H sẽ giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà D. Đến thời hạn bàn giao đất Nguyễn Thanh H không có đất để bàn giao nên bà Nguyễn Thùy D đã làm đơn tố cáo Nguyễn Thanh H về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Ph.
Tổng số tiền Nguyễn Thanh H thu được từ việc đại diện Công ty Thắng L ký hợp đồng môi giới và ký 05 hợp đồng bán 05 thửa đất thuộc khu dân cư Phú Thịnh cho 04 cá nhân nêu trên là: 11.856.769.000 đồng (mười một tỷ tám trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi chín ngàn đồng). Số tiền này Hùng trả cho Công ty Đất X số tiền chiết khấu 652.541.520đ (sáu trăm năm mươi hai triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn năm trăm hai mươi đồng), số tiền còn lại sử dụng tiêu xài cá nhân và dùng để trả cho một số bị hại đã làm đơn tố cáo H về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi mua đất tại các dự án bất hợp pháp của H tại Bình D.
Danh sách người bị hại, số tiền chiếm đoạt và số tiền đã trả lại như sau:
SINH
SỐ TIỀN ĐÃ
SỐ TIỀN BỊ CÁOKÝ STT
Họ tên KH
NĂM
NỘP
ĐÃ TRẢ
HĐ
Lê Hữu Ng
Nguyễn
1
1962
6,440,119,000
0
(02 lô)
Thanh H
Nguyễn
2
Đỗ Xuân Th
1967
950,000,000
0
Thanh H
Nguyễn
3
Nguyễn Kim Th
1981
766,650,000
0
Thanh H
Nguyễn
4
Nguyễn Thuỳ D
1989
2,700,000,000
0
Thanh H
Lê Quang L
Nguyễn
5
1,000,000,000
0
(Đại diện Cty
Thanh H
Đất X Central)
TỔNG
11,856,769,000
00
Như vậy: Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C, Nguyễn Anh Kh, Châu Lê Minh Z gian dối ký 455 hợp đồng chuyển nhượng 455 lô đất ở 07 dự án khác nhau do các bị cáo tự đặt ra và dự án không có quyền chuyển nhượng và ký 01 hợp đồng môi giới chiếm đoạt tổng số tiền là 162.145.119.000 đồng (một trăm sáu mươi hai tỷ một trăm bốn mươi lăm triệu một trăm mười chin nghìn đồng) của 384 bị hại (trong đó có 05 bị hại mua tại 02 dự án khác nhau gồm: Ngô Văn H (Green City, Green City 2), Hoàng Tuấn A (Green City 2, Green City 3), Phạm Nguyễn D P (Happy Home, Happy Home 2), Vũ Thành Phúc (Green City, Phúc Long City), Lê Hoàng C (Green City 3, Phúc Long City), Nguyễn Thuỳ D (Happy Home 2, Phú Thịnh). Nguyễn Thanh H và đồng phạm đã khắc phục trả lại một phần tiền chiếm đoạt cho 176 bị hại, tổng số tiền là 18.149.360.000 đồng (mười tám tỷ một trăm bốn mươi chín triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng) (số tiền trả thấp nhất 10.000.000 đồng, cao nhất 285.000.000 đồng). Số tiền còn lại chưa khắc phục trả lại cho 384 bị hại là 144.426.509.000 đồng (một trăm bốn mươi tư tỷ bốn trăm hai mươi sáu triệu năm trăm lẻ chín nghìn đồng).
(1) Liên quan đến thửa đất số 14, 15 thuộc tờ bản đồ số 4, diện tích 8.664,1 m2, địa chỉ: tại xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D (các bị cáođặt tên là dự án “Khu dân cư Happy Home” sau đó đổi tên là dự án “Khu nhà ở Thành C 1). Nguyễn Thanh H tham gia cùng với Hoàng Anh Vui, Nguyễn Anh K, Lê Văn C và Châu Lê Minh Z (châu Quốc T) thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 23 bị hại là: 6.099.500.000 đồng (sáu tỷ không tram chín mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng).
Đến nay, Nguyễn Thanh H và đồng phạm khắc phục trả lại cho 14 bị hại: 2.663.300.000 đồng (hai tỷ ba trăm sáu mươi ba triệu ba trăm nghìn đồng), còn lại: 3.510.200.000 đồng (ba tỷ năm trăm mười triệu hai trăm nghìn đồng) chưa trả (kèm theo bảng Phụ lục I).
(2) Liên quan thửa đất số 126, tờ bản đồ số 30, diện tích: 9354,2 m2, địa chỉ: xã Thanh A, huyện Dầu T, tỉnh Bình D (các bị cáotự đặt tên là dự án “Khu dân cư Happy Home 2”). Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Nguyễn Anh K, Lê Văn C và Châu Lê Minh Z (châu Quốc T) thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt của 11 bị hại, chiếm đoạt: 14.035.750.000 đồng (mười bốn tỷ không trăm ba mươi lăm triệu đồng).
Đến nay, Nguyễn Thanh H cùng đồng phạm khắc phục trả lại cho 04 bị hại: 1.127.250.000 đồng (một tỷ một trăm hai mươi bảy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), còn lại: 12.907.750.000 đồng (mười hai tỷ chín trăm lẻ bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) chưa trả (kèm theo bảng Phụ lục II) .
(3) Liên quan đến thửa đất số 411, tờ bản đồ số 36, diện tích: 12.152,9 m2, địa chỉ: xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D (các bị cáotự đặt tên là dự án “Khu dân cư Green City 1”, sau đó đổi tên thành dự án “Khu nhà ở Phúc Long 1”). Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Nguyễn Anh K, Lê Văn C thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt của cho 63 bị hại, chiếm đoạt tổng: 21.734.050.000 đồng (hai mươi mốt tỷ bảy trăm ba mươi tư triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Đến nay, Nguyễn Thanh H cùng đồng phạm đã khắc phục trả lại cho 46 bị hại: 4.706.260.000 đồng (bốn tỷ bảy trăm lẻ sáu triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng), còn lại: 17.053.390.000 đồng (mười bảy tỷ không trăm năm ba triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng) chưa trả (kèm theo bảng Phụ lục III).
(4) Liên quan đến thửa đất số 2650, tờ bản đồ số 37, diện tích 28.833,1 m2, đại chỉ: xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D (các bị cáotự đặt tên là dự án “Khu dân cư Green City 2”, sau đó đổi tên thành “Khu nhà ở Phúc Long 2”). Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Nguyễn Anh K, Lê Văn C tham gia thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 134 bị hại, chiếm đoạt: 52.043.000.000 đồng (năm mươi hai tỷ không trăm bốn mươi ba triệu triệu đồng).
Đến nay, Nguyễn Thanh H cùng đồng phạm đã khắc phục trả lại cho 58 bị hại: 6.688.450.000 đồng (sáu tỷ sáu tám tám triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng), còn lại: 45.636.300.000 đồng (bốn mươi lăm tỷ sáu trăm ba mươi sáu triệu ba trăm nghìn đồng) chưa trả (kèm theo bảng Phụ lục IV).
(5) Liên quan đến thửa đất số 66, 67, tờ bản đồ số 37, diện tích: 30,306 m2, địa chỉ: xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D (các bị cáotự đặt tên là dự án “Khu dân cư Green City 3”, sau đó đổi tên thành “Khu nhà ở Phúc Long 2”). Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C tham gia thực hiện hành vi lừa đảo của 85 bị hại, chiếm đoạt tổng là: 36.654.300.000 đồng (ba mươi sáu tỷ sáu trăm năm mươi tư triệu ba trăm nghìn đồng).
Đến nay, Nguyễn Thanh H và đồng phạm đã khắc phục trả lại cho 34 bị hại: 2.139.100.000 đồng (hai tỷ một trăm ba mươi chín triệu một trăm nghìn đồng), còn lại: 34.564.600.000 đồng (ba mươi tư tỷ năm trăm sáu tư triệu sáu trăm nghìn đồng) chưa trả (kèm theo bảng Phụ lục V).
(6) Liên quan đến thửa đất số 06, tờ bản đồ số 57, diện tích: 15.897 m2, địa chỉ; xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D (các bị cáo tự đặt tên là dự án “Khu dân cư Phúc Long City”, sau đó đổi tên thành “Khu nhà ở Thành công 2”). Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C tham gia thực hiện hành vi lừa đảo của 69 bị hại, chiếm đoạt tổng cộng là: 19.722.500.000 đồng (mười chín tỷ bảy trăm hai mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Đến nay, Nguyễn Thanh H cùng đồng phạm đã khắc phục trả lại cho 20 bị hại tổng là: 825.000.000 đồng (tám trăm hai mươi lăm triệu đồng), còn lại: 18.897.500.000 đồng (mười tám tỷ tám trăm chín mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng) chưa trả (kèm theo bảng Phụ lục VI).
(7) Liên quan đất khu dân cư Phú Th (giai đoạn 1), phường Tân Ph, thành phố Đồng X. Chủ tài sản: Sở Xây dựng tỉnh Bình Ph. Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V tham gia thực hiện hành vi lừa đảo của 05 bị hại, chiếm đoạt tổng số tiền: 11.856.769.000 đồng (mười một tỷ tám trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi chín nghìn đồng).
Đến nay, Nguyễn Thanh H cùng đồng phạm chưa khắc phục trả lại cho cho các bị hại (kèm theo bảng Phụ lục VII) .
Ngoài các bị hại nêu trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định có 54 trường hợp cá nhân thể hiện thông tin mua đất các dự án không có thật tại tỉnh Bình D nhưng không có đơn tố giác đề nghị xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành thông báo tìm bị hại trong vụ án trên phương tiện thông tin đại chúng, uỷ thác điều tra, xác minh, triệu tập ghi lời khai, kết quả: 35 trường hợp xác minh không có mặt địa phương; 01 trường hợp xác minh đã chết, các trường hợp còn lại do không đủ thông tin lai lịch cá nhân để xác minh hoặc đã triệu tập ghi lời khai nhưng không đến làm việc theo yêu cầu nên không có căn cứ để xử lý (kèm theo bảng Phụ lục VIII).
Trong đó:
- Tại dự án “Khu dân cư Happy Home”: 09 cá nhân.
- Tại dự án “Khu dân cư Happy Home 2”: 01 cá nhân
- Tại dự án “Khu dân cư Green City 1”: 18 cá nhân
- Tại dự án “Khu dân cư Green City 2”: 16 cá nhân
- Tại dự án “Khu dân cư Green City 3”: 06 cá nhân
- Tại dự án “Khu dân cư Phúc Long City”: 04 cá nhân.
Ngày 01/4/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ban hành công văn số 192, 193 đề nghị báo Pháp luật Việt Nam và Đài tiếng nói Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh đăng 03 kỳ báo liên tiếp và phát sóng 03 lần liên tục thông báo tìm bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bảo đảm theo quy định. Ngày 03, 04, 05/4/2020 và ngày 20, 21, 22/4/2020 Báo Pháp luật Việt Nam và Đài tiếng nói Việt Nam đã đăng thông báo, phát sóng theo yêu cầu.
Danh sác các cá nhân có thông tin mua đất nhưng không có tố giác:
ST
HỌ
SỐ TIỀN
TIỀN TRẢ
NGƯỜI
SN
HKTT T
TÊN
NỘP
LẠI
KÝ KẾT
An Linh,
Lê Thị
198
Hoàng Anh
1
Phú G,
210,400,000
S
4
V
Bình D
Phước L,
Lê Văn 198
Hoàng Anh
2
Phước L,
630,000,000
703,100,000
Tr
3
V
Bạc L
Trần
199 Hiến S, Đô
Hoàng Anh
3
346,500,000
465,000,000
Thị T
1
L, Nghệ A
V
Thới H,
Trần
199
Hoàng Anh
4
Bến C,
315,000,000
315,000,000
Thị H
2
V
Bình D
Thạnh Th,
Nguyễn
5
Vĩnh Th,
100,000,000
Văn D
Cần T
Đào
Sơn T,
198
Hoàng Anh
6
Minh
Hương S,
330,000,000
352,500,000
0
V
Luận
Hà T
Hồng L,
Lê Thị
198
Hoàng Anh
7
Lộc H, Hà 230,000,000
244,400,000
Táo
8
V
T
Thọ L, Thọ
Phạm
198
Hoàng Anh
8
X, Thanh
330,000,000
373,000,000
Thị Huệ
6
V
H
Nguyễn
Nhơn Tr,
199
Hoàng Anh
9
Thị
310,000,000
333,100,000
Nhơn B,
2
V
Bích T
Trà Ô,
Vĩnh L
Lê
Bình Đ,
199
Hoàng Anh 10
Trường
Bình H,
350,000,000
370,000,000
1
V
G
Thuận A
Tịnh H,
Nguyễn 198
Hoàng Anh 11
Sơn T,
270,000,000
277,425,000
L
8
V
Quãng Ng
Hiệp Th,
Phạm
198
Thủ D
Hoàng Anh 12
250,000,000
320,000,000
Thế A
1
Một, Bình
V
D
Nhân S,
Nguyễn 199
Hoàng Anh 13
Đô L,
209,000,000
220,000,000
Thị Th
3
V
Nghệ A
Tổ 6,
Phước A,
Nguyễn 199
Đá B,
Hoàng Anh 14
290,000,000
298,000,000
Ngọc L
0
Châu Đ,
V
Bà Rịa
Vũng T
Tổ 8, Quế
Nguyễn 196
Hoàng Anh 15
Ph, Quế S, 240,000,000
240,130,000
Th
5
V
Quảng N
Thôn 3, xã
Bùi Thị 198
Hoàng Anh 16
Đã T, Đạ
350,000,000
350,000,000
Tuyết D
2
V
H, Lâm Đ
Trần
Mỹ Ph,
199
Hoàng Anh 17 Thị Thu
Bến C,
1
V
Th
Bình D
Xã Tân Ph,
Lê
huyện
199 18
Hoàng
Thanh B,
3
G
tỉnh Đồng
Th
15 đường
số 4,
Lê
198 19
phường 10, 310,000,000
272,000,000
Thanh T
7
Tân B, TP.
HCM
Thụy Tr,
Đoàn
198
Hoàng Anh 20
Thái T,
239,000,000
50,000,000
Văn Th
4
V
Thái B
Lê Văn 196 Bình L, Hà
Hoàng Anh 21
299,500,000
299,500,000
M
9
N
V
Cẩm V,
Lê Thị
198
Hoàng Anh 22
Cẩm Th,
303,000,000
303,000,000
H
7
V
Thanh H
Cẩm V,
Lê Xuân 197
Hoàng Anh 23
Cẩm T,
301,500,000
301,500,000
H
6
V
Thanh H
Tân Đông
Lê Văn 198
Hoàng Anh 24
H, Dĩ A,
328,000,000
340,300,000
H
9
V
Bình D
Vũ Thị
D
An D,
195
Hoàng Anh 25
(Nguyễ
Quỳnh Ph, 338,000,000
429,600,000
6
V
n Tiến
Nghệ A
H)
Cao
Văn T
Diễn L,
199
Hoàng Anh 26
(Cao
Diễn Ch,
310,000,000
310,000,000
3
V
Trường
Nghệ A
G)
Tp. Quy
Trần
199
Hoàng Anh 27
Nh, Bình
310,000,000
310,000,000
Minh H
2
V
Đ
Nguyễn
199 Kỳ T, Kỳ
Hoàng Anh 28
Quang
384,000,000
401,300,000
0
A, Hà T
V
B
xã Phúc
Chu
198
Th, Yên
Hoàng Anh 29
299,500,000
307,750,000
Văn Đ
4
Th, Nghệ
V
A
Quảng T,
Nguyễn 198
Hoàng Anh 30
Quảng Tr, 210,000,000
230,000,000
Văn Kh
9
V
Quảng B
Tân D,
Đặng
198
Hoàng Anh 31
Đầm D, Cà 330,000,000
360,000,000
Mộng C
6
V
M
Nguyễn
Tân Đ,
198
Hoàng Anh 32
Trường
Bến C,
203,000,000
203,000,000
7
V
Kh
Bình D
Lê Đình 197 Cẩm D, C
Hoàng Anh 33
911,000,000
964,800,000
Th
9
X, Hà T
V
Phạm
199
Ea H, Ea 34
243000000
Thị Th
0
H'L, Đắk L
Nguyễn
Bình Ch,
198
Hoàng Anh 35
Thanh
Thủ Đ, Tp. 344,000,000
378,000,000
6
V
M
HCM
Phùng
198
Đ Th, Ba
Hoàng Anh 36
Quốc
252,000,000
252,000,000
7
V, Hà Nội
V
Th
Nguyễn
Bình Ch,
199
Hoàng Anh 37
Minh
Thủ Đ, Tp. 923,000,000
973,000,000
1
V
Th
HCM
Nguyễn
199
Đức P,
Hoàng Anh 38
Thanh
0
Quãng Ng
V
Q
Khu phố
Đồng A1,
Dương 198
Hoàng Anh 39
BÌnh H,
Phi B
8
V
Thuận A,
Bình D
Cẩm L,
Bùi Thị 198
Hoàng Anh 40
Cẩm X, Hà
L
4
V
T
Nguyễn 199 Đại S, Đô
Nguyễn 41
171,400,000
161,400,000
Khắc H
2
L, Nghệ A
Anh K
Nguyễn
198
Nguyễn 42 Lê Vũ L
Ph, huyện
279,000,000
Thu mua lại
3
Anh K
U M, Cà M
25/69/3,
Bùi Thị 197 Bùi Quang
Nguyễn 43
193,000,000
193,000,000
Th
6
L, Gò V,
Thanh H
TP.HCM
Hồ Văn 198 Quỳnh L,
Nguyễn 44
279,000,000
289,870,000
M
7
Nghệ A
Anh K
Thanh L,
Lô
198
Nguyễn 45
Như X,
288,000,000
308,000,000
Minh N
1
Anh K
Thanh H
Hương Th,
Nguyễn 198
Nguyễn 46
Lệ Th,
275,000,000
295,000,000
Thị N
8
Anh K
Quảng B
Liên Ph,
Nguyễn 198 Tp. Hưng
Nguyễn 47
275,000,000
337,000,000
Thị T
0
Y, tỉnh
Anh K
Hưng Y
KP 4, Mỹ
Nguyễn 196
Nguyễn 48
Ph, Bến C, 479,500,000
538,450,000
Thị M
0
Anh K
Bình D
Tuy L,
Lê Văn 198
Nguyễn 49
Hậu L,
279,000,000
290,000,000
T
6
Thanh H
Thanh H
Thụy
Nguyễn
197 Hồng, Thái
Hoàng Anh 50
Duy
190,000,000
190,000,000
7
Thụy, Thái
Vui
Nhật
Bình
Phường
Hoàng
Hoàng Anh 51
Tân B, Dĩ
Không rõ
Không rõ
Văn V
2
V
A, BD
Hưng Tr,
Đinh
198 52
Hưng Ng,
Không rõ
Không rõ
Không rõ
Bạc D
2
Nghệ A
Xuân L,
Nguyễn 198 53
Can L, Hà
Không rõ
Không rõ
Không rõ
Văn D
4
T
21/6L
Đông L,
Phạm
197
Nguyễn 54
Bà Đ, Hóc 952,500,000
983500000
Kiều H
6
Thanh H
M, Tp.
HCM
14,707,400,0
15,687,025,00
TỔNG
0
0
Đối với tiền chiếm đoạt được, Nguyễn Thanh H là người quản lý sử dụng để làm chi phí hoạt động trong công ty (lương, thưởng cho nhân viên kinh doanh, trang thiết bị, chi phí khác …), sử dụng vào việc tiếp tục đặt cọc mua đất để phân lô, chia nhau tiêu xài (dưới hình thức trả lương, thưởng, chiết khấu … cho thành viên công ty) và sử dụng vào mục đích cá nhân khác mua xắm phương tiện, tiêu xài cá nhân … . Sau khi bị phát hiện, bị tố giác thì Nguyễn Thanh H và đồng phạm sử dụng một phần tiền để khắc phục trả lại cho bị hại như nêu trên. Ngoài ra, H và đồng phạm tiến hành cầm cố, chuyển nhượng chính các thửa đất đã làm dự án lấy tiền để tiếp tục đầu tư, kinh doanh, chia nhau tiêu xài, chi phí làm dự án và một phần trả lại cho những bị hại.
- Kết luận giám định.
Các tài liệu thu giữ như: hợp đồng, phiếu thu, tài liệu khác liên quan đến việc mua bán có chữ ký, chữ viết của các bị cáovà của các bị hại; các con dấu, hợp đồng thỏa thuận phân phối, giấy uỷ quyền … trong vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành giám định, xác định là chữ viết, chữ ký, dấu vân tay của các bị cáovà các bị hại trong vụ án; là con dấu của các công ty do Nguyễn Thanh H và đồng bọn lập ra để thực hiện hành vi phạm tội… (kèm theo bảng Phụ lục IX).
- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật.
Là tài liệu chứng cứ liên quan đến hành vi phạm tội của các bị can, lên quan đến bị hại bị hại, người liên quan (Bản kê vật chứng kèm theo).
(1) Đối với tài sản là quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 411, tờ bản đồ số 36, diện tích: 12.152,9 m2 thuộc xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D do Nguyễn Thanh H đứng tên giấy chứng nhận QSD đất.
Sau khi thu tiền của các khách hàng mua nền đất tại các dự án trước thì khoảng tháng 7 năm 2018, H, V, C đã thỏa thuận tiến hành đặt cọc mua thửa đất số 411, tờ bản đồ số 36, diện tích: 12.152,9 m2 thuộc xã Lai Hưng, huyện Bàu B, tỉnh Bình D của ông Nguyễn Đình Th (sinh năm 1961, HKTT: xã Long Ng, huyện Bàu B, tỉnh Bình D) với giá chuyển nhượng là 8,5 tỷ đồng.
Ngày 23/7/2018, ông Nguyễn Đình Th ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên cho Nguyễn Thanh H tại Văn phòng công chứng Bàu B, tỉnh Bình D và ngày 05/9/2018 được Sở Tài nguyên và Môi trưởng tỉnh Bình D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Nguyễn Thanh H. Nguồn gốc số tiền mua đất trên là tiền của các khách hàng từ việc phân lô bán cho khách hàng tại các dự án.
Sau khi triển khai bán nền đất cho các khách hàng tại dự án được phân lô trên khu đất trên, đến hạn giao đất không bàn giao đất và giấy chứng nhận QSD đất cho khách hàng, thì các bị cáoH, V, C đã bàn bạc thống nhất vay số tiền 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng) của ông Nguyễn Văn Bản (địa chỉ: phường Dĩ A, thành phố Dĩ A, tỉnh Bình D) với điều kiện đảm bảo bằng việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng QSD đất đối với thửa đất trên cho ông B. Việc vay tiền thì ông B và H có làm giấy vay tiền ngày 07/01/2020 và ký hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ đối với thửa đất số 411, tờ bản đồ số 36, diện tích: 12.152,9 m2 thuộc xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D tại Văn phòng Công chứng Dĩ A, tỉnh Bình D.
Quá trình xác minh tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Bàu B, tỉnh Bình D hiện tại thửa đất số 411, tờ bản đồ số 36, diện tích: 12.152,9 m2 thuộc xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D hiện tại do Nguyễn Thanh H đứng tên giấy chứng nhận QSD đất.
Ngày 14/6/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D đã ra lệnh kê biên tài sản số 04 đối với tài sản là là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 411, tờ bản đồ số 36, diện tích: 12.152,9 m2 thuộc xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D.
(2) Đối với tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 06, tờ bản đồ số 57, diện tích: 15.897 m2 tại xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D do Lê Văn C đứng tên giấy chứng nhận QSD đất.
Sau khi thu tiền của các khách hàng mua nền đất tại các dự án khác thì tháng 10/2018, H, V, C thống nhất đặt cọc mua thửa đất số 06, tờ bản đồ số 57, diện tích: 15.897 m2 tại xã Phước H, huyện Phú G tỉnh Bình D của bà Võ Thị Kim Ph (sinh năm: 1979, HKTT: Tổ 15, khu phố 1, phường Mỹ Ph, thị xã Bến C, tỉnh Bình D) với giá trị mua bán là: 6.480.000.0000 đồng.
Ngày 07/12/2018, bà Võ Thị Kim Ph ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Lê Văn C và ngày 10/12/2018 tiếp tục ký Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Lê Văn C, nội dung thay đổi: giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 50.000.000 đồng sang giá chuyển nhượng là 6.480.000.0000 đồng và ngày 24/12/2018 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Phú G đăng ký biến động điều chỉnh sang tên cho Lê Văn C. Nguồn gốc số tiền mua đất trên là tiền của các khách hàng bán được từ việc phân lô bán cho khách hàng tại các dự án.
Sau khi triển khai bán nền đất cho các khách hàng tại dự án Phúc L city được phân lô trên khu đất trên, đến hạn giao đất không bàn giao đất và giấy chứng nhận QSDĐ cho khách hàng. Để có tiền duy trì hoạt động công ty và trả một phần cho các bị hại thì bị cáo H, V, C đã bàn bạc thống nhất vay số tiền 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng) của ông Lê Minh H (địa chỉ: phường Vĩnh T, thành phố Tân U, tỉnh Bình D) với điều kiện thế chấp bằng việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng QSD đất thửa đất số 06, tờ bản đồ số 37, diện tích: 15.897 m2 thuộc xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D cho ông H.
Ngày 19/7/2019, Lê Văn C ký giấy vay tiền với ông Lê Minh H đồng thời ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thể hiện nội dung chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Lê Minh H tại Văn phòng công chứng Thành phố M, Thủ Dầu M, tỉnh Bình D.
Quá trình xác minh tại Chi nhánh VPĐK Đất đai huyện Phú G, tỉnh Bình D hiện tại thửa đất số 06, tờ bản đồ số 57, diện tích: 15.897 m2 tại xã Phước Hòa, huyện Phú G, tỉnh Bình D hiện tại do Lê Văn C đứng tên giấy chứng nhận QSD đất.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D đã thu giữ giấy chứng nhận QSD đất trên và và ngày 14/6/2021 ra lệnh kê biên tài sản số 02 đối tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 06, tờ bản đồ số 57, diện tích: 15.897 m2 tại xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D để xử lý theo quy định.
(3) Đối với tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 66, 67, tờ bản đồ số 37, diện tích: 30,306 m2, địa chỉ: xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D do ông Ngô Sơn Ch đứng tên giấy chứng nhận đăng ký.
Sau khi thu tiền của các khách hàng mua nền đất tại các dự án khác thì 5/11/2018, H,V, C thống nhất đặt cọc mua thửa đất số 66, 67, tờ bản đồ số 37, diện tích: 30,306 m2, địa chỉ: xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D với giá trị mua thửa đất trên là: 24.700.000.000 đồng (hai mươi bốn tỷ bảy trăm triệu đồng) do hộ ông Ngô Sơn Ch đứng tên giấy chứng nhận đăng ký quyền sử dụng đất.
Ngày 15/3/2019, Ngô Sơn Châu đã chuyển nhượng QSD đất cho Nguyễn Thanh Hùng nhưng không ký hợp đồng chuyển nhượng mà chỉ làm hợp đồng ủy quyền toàn quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên cho Nguyễn Thanh Hùng.
Sau khi triển khai bán nền đất cho các khách hàng tại dự án Green City 3 được phân lô trên khu đất trên, đến hạn giao đất không bàn giao đất và giấy chứng nhận QSD đất cho khách hàng. Để có tiền duy trì hoạt động công ty và trả một phần cho các bị hại các bị cáo đã bàn bạc thống nhất vay tiền, cụ thể ngày 5 tháng 8 năm 2019, Nguyễn Thanh Hùng vay số tiền 06 tỷ đồng và thế chấp bằng việc ký ký hợp đồng ủy quyền cho ông Nguyễn Chí C (sinh năm 1956, HKTT: phường Hiệp Th, thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình D). Thửa đất số 66, 67, tờ bản đồ 37, địa chỉ: xã Lai H, huyện Bàu b, Bình D tại Văn phòng công chứng Bàu B.
Ngày 02/01/2020, Nguyễn Thanh H tiếp tục vay tiền 10.000.000.000 đồng của ông Trần Văn Q (sinh năm: 1984, địa chỉ: Phú L, Can L, Hà T và bà Nguyễn Thị Ch (sinh năm 1974, HKTH: Khu phố 4, phường Thới H, thị xã Bến C, tỉnh Bình D) và đề nghị ông Nguyễn Chí C ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất đối với thửa đất số 66, 67, tờ bản đồ số 37, diện tích: 30,306 m2, địa chỉ: xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D cho ông Trần Văn Q, bà Nguyễn Thị C để bảo đảm số tiền vay.
Quá trình điều tra, xác định nguồn gốc số tiền mua đất trên là tiền của các khách hàng do các đối tượng chiếm đoạt từ việc phân lô bán cho khách hàng tại các dự án, hiện tại thửa đất trên do ông Ngô Sơn Ch đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D đã thu giữ giấy chứng nhận QSD đất trên và ngày 14/6/2021 ra lệnh kê biên tài sản số 03 đối với tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 66, 67, tờ bản đồ số 37, diện tích: 30,306 m2, địa chỉ: xã Lai H huyện Bàu B, tỉnh Bình D để xử lý theo quy định.
(4) Đối với tài sản là quyền sử dụng đất tại các thửa đất:
- Thửa đất số 14, 15 thuộc tờ bản đồ số 4, diện tích 8.664,1 m2 tại xã Phước H, huyện Phú G, tỉnh Bình D;
- Thửa đất số 126, tờ bản đồ số 30, diện tích: 9354,2 m2 thuộc xã Thanh A, huyện Dầu T, tỉnh Bình D;
- Thửa đất số 2650, tờ bản đồ số 37, diện tích: 28.833,1 m2 thuộc xã Lai H, huyện Bàu B, tỉnh Bình D cho ông Vũ Minh T, sinh năm: 1984, HKTT: 95/2/16 Bình L, p13, quận Bình Th, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tháng 8 năm 2019, Nguyễn Thanh H cùng Hoàng Anh V ký hợp đồng chuyển nhượng QSD đất cho ông Vũ Minh T (như nội dung đã nêu tại mục (7) liên quan dự án Phú Th). Riêng thửa đất số 126, tờ bản đồ số 30, diện tích: 9354,2 m2 thuộc xã Thanh A, huyện Dầu T, tỉnh Bình D do bà Đinh Thị Thu H đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ nên vào ngày 13/8/2019, Nguyễn Thanh H nhờ bà Đinh Thị Thu H ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và ngày 02/10/2019 ký hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho ông Vũ Minh T, nội dung sửa đổi, bổ sung: diện tích đất thay đổi sau khi đo đạc thực tế giảm còn 9.194 m2 và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình D cấp giấy ngày 27 tháng 11 năm 2019 cho ông Vũ Minh T và các thửa đất trên ông Vũ Minh T đã được đăng ký quyền sử dụng đất. Đây là tài sản do các Nguyễn Thanh H và đồng phạm có được từ nguồn tiền do phạm tội mà có, tuy nhiên hiện tại tài sản này đã được chuyển nhượng cho người khác và được cơ quan có thẩm quyền đăng ký. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D đã đề nghị ngăn chặn giao dịch đối với tài sản trên. Ngày 18 tháng 01 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D đã ra Quyết định tạm giữ đồ vật tài liệu liên quan là 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Vũ Minh T tại các thửa đất trên. Kết quả tống đạt, ông Vũ Minh T không cung cấp 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra và trình bày với lý do đã chuyển nhượng 03 thửa đất trên cho người khác (không rõ thông tin lai lịch và địa chỉ liên hệ) bằng việc viết tay và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bên mua. Để tránh chuyển dịch tài sản và đảm bảo thi hành án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D tiếp tục gửi Công văn số 2943/CSKT-Đ4 ngày 25 tháng 10 năm 2022 đến Cơ quan quản lý đất đai và chính quyền địa phương biết về việc thông báo ra Quyết định tạm giữ đồ vật, tài liệu trên và đề nghị tạm ngừng mọi giao dịch liên quan các thửa đất trên.
Ngày 23/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D đã ra lệnh kê biên số 01, 02, 03 đối với 03 thửa đất trên để bảo đảm thi hành án.
Đối với số tiền cho vay 26.659.000.000 đồng (hai mươi sáu tỷ sáu trăm năm mươi chín triệu đồng) của ông Vũ Minh T bằng việc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại 03 thửa đất thực hiện dự án trên. Để đảm bảo thêm khoản vay, Vũ Minh T không chuyển tiền cho Nguyễn Thanh H, Vũ Minh T yêu cầu được trực tiếp sử dụng tiền để đăng ký đấu giá dự án Khu dân cư Phú Th và đứng tên dự án sau khi trúng đấu giá để cho công ty Thắng L của Nguyễn Thanh H bán thì H đồng ý. Ngoài số tiền trên, Nguyễn Thanh H trước đó đã nộp 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng, tiền chiếm đoạt của các bị hại) cho trung tâm đấu giá tài sản tỉnh Bình Ph để để đăng ký đấu giá nhưng sau đó điều chỉnh lại tên người nộp là Vũ Minh T.
Ngày 12/9/2019, ông Vũ Minh T trúng đấu giá tài sản nhóm I gồm 04 cụm là BT1; BT2; BT3; LK4 với giá trả là 186.236.000.000 đồng (một trăm tám mươi sáu tỷ hai trăm ba mươi sáu triệu đồng) tại dự án khu dân cư Phú Th. Số tiền 27.659.000.000 đồng (hai mươi bảy tỷ sáu trăm năm mươi chín triệu đồng) được chuyển thành tiền đặt cọc để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán số tiền mua tài sản trúng đấu giá của ông Vũ Minh T được Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản đã chuyển vào Kho bạc Nhà nước tỉnh Bình Ph ngay sau khi khách hàng trúng đấu giá. Nhưng sau khi trúng đấu giá, Nguyễn Thanh H không có tiền tiếp tục nộp để mua dự án nên ngày 06/01/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Ph có Quyết định số 14/QĐ-UBND về việc hủy kết quả bán đấu giá của ông Vũ Minh T với lý do ông Tâm không nộp tiền mua tài sản theo quy định nên số tiền 27.659.000.000 đồng (hai mươi bảy tỷ sáu trăm năm mươi chín triệu đồng) đã được tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước với lý do ông T không nộp tiền mua tài sản theo quy định.
(5) Đối với tài sản là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mercedes Benz E200, BKS: 61A -555.69 do Nguyễn Thanh H đứng tên giấy chứng nhận đăng ký.
Sau khi thu tiền tại các dự án, Nguyễn Thanh H đã sử dụng số tiền chiếm đoạt để mua và đăng ký xe ô tô nhãn hiệu Mercedes Benz E200, BKS: 61A -555.69 do Nguyễn Thanh H đứng tên.
Ngày 06/9/2019, Nguyễn Thanh H đã vay tiền và thế chấp chiếc xe trên cho ông Lê Tấn H (sinh năm: 1986, HKTT: Khu phố 5, phường Vĩnh T, thị xã Tân U, tỉnh Bình D) với số tiền: 1.200.000.000 đồng (một tỷ hai trăm triệu đồng). Kết quả tra cứu xe tại cơ quan đăng ký xe vẫn do Nguyễn Thanh H đứng tên giấy chứng nhận đăng ký.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D đã thu giữ tài sản trên để xử lý theo quy định.
(6) Đối với số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) thu giữ của ông Nguyễn Gia Cử, SN: 1965, HKTT: Tiến Th, Đồng X, Bình Ph.
Quá trình điều tra xác định năm 2018, Nguyễn Thanh H đã sử dụng số tiền chiếm đoạt của các bị hại để góp vốn số tiền 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng) tham gia hợp đồng kinh tế mua bán đất với ông Cử. Do quá trình không thực hiện được nên ông Cử đã trả lại số tiền 4.700.000.000 đồng (bốn tỷ bảy trăm triệu đồng). Còn số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), ông Cử đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D để xử lý theo quy định.
(7) Đối với số tiền 3.424.000.000 đồng (ba tỷ bốn trăm hai mươi tư triệu đồng) được thu giữ trong vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Thủ Dầu M, tỉnh Bình D.
Quá trình điều tra xác định từ đầu năm 2019, Nguyễn Thanh H đã sử dụng số tiền chiếm đoạt của các bị hại để đưa số tiền 19.200.000.000 đồng (mười chín tỷ hai trăm triệu đồng) cho đối tượng Lê Công B (sinh năm 1996, HKTT: phường Hòa L, thị xã Bến C, tỉnh Bình D) để “chạy” xin chủ trương phê duyệt các dự án của Công ty Bình Dương City Land tại tỉnh Bình D và “chạy” để xin tham gia đấu giá dự án khu dân cư Phú Thịnh, địa chỉ: phường Tân P, Thành phố Đồng X, tỉnh Bình Ph. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 36 ngày 04/2/2021 và bắt bị cáoLê Công Bằng về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi được số tiền 3.424.000.000 đồng (ba tỷ bốn trăm hai mươi tư triệu đồng), số tiền trên là vật chứng của vụ án. Đến nay Toà án nhân dân tỉnh Bình D đang thụ lý xét xử vụ án.
(8) Đối với số tiền 652.541.520 đồng (sáu trăm năm mươi hai triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn năm trăm hai mươi đồng).
Quá trình điều tra xác định là tiền có nguồn gốc do phạm tội mà có, sau khi Nguyễn Thanh H cùng đồng phạm thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tại dự án khu dân cư Phú Th (gia đoạn 1) H trả cho Công ty DXMD số tiền chiết khấu trên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 141/2023/HS-ST ngày 01/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình D đã quyết định:
Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
1. Về tội danh, hình phạt:
1.1 Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C, Nguyễn Anh K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1.2 Về hình phạt:
1.2.1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, g khoản 1 Điều 52, Điều 39, Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2020.
1.2.2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Anh V 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2020.
1.2.3. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58, Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn C 18 (mươi tám) năm tù. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2022/HS-ST ngày 15/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Ch, tỉnh Tây N. Buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án là 19 (mười chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2022.
1.2.4. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh K 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Ngoài ra bản án còn quyết định về hình phạt đối với bị cáo Châu Lê Minh Z, trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định các bị cáo kháng cáo như sau: Bị cáo Nguyễn Thanh H cho rằng ý thức không muốn chiếm đoạt tài sản của bị hại, tài sản hiện còn 6 thửa đất trị giá khoảng 200 tỷ đủ trả cho bị hại, chưa áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tích cực giúp cơ quan điều tra phát hiện tội phạm, trong quá trình công tác tại lực lượng vũ trang được tặng thưởng nhiều giấy khen, bằng khen và ông bà nội được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Hoàng Anh V cho rằng không có ý thức chiếm đoạt tài sản của bị hại, tài sản kê biên đủ trả cho bị hại, bị cáo chỉ là đồng phạm giúp sức, tích cực trả một phần thiệt hại cho bị hại, cha bị cáo được tặng thưởng nhiều Huân chương kháng chiến để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Lê Văn C cho rằng tài sản kê biên đủ trả cho bị hại, bị cáo chỉ là đồng phạm giúp sức, tích cực trả một phần thiệt hại cho bị hại để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Nguyễn Anh K cho rằng Tòa án chưa phân chia tỷ lệ để các bị cáo bồi thường và chưa xem xét ý chí nhận thức của bị cáo trong vụ án để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị hại ông Nguyễn Văn A kháng cáo đề nghị sửa phần trách nhiệm dân sự liên quan đến ông Lê Tấn H, Lê Minh H, Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị Ch tách thành vụ án dân sự khác. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Khúc Hồng H kháng cáo yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh H phải trả 26.659.000.000 đồng tiền vay cho vợ chồng bà Hoa.
Tại phiên tòa các bị cáo và người đại diện theo ủy quyền của bà H giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố các bị cáo H, C, V và K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ; trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khắc phục một phần hậu quả và tài sản là quyền sử dụng đất, tiền, xe… của các bị cáo đã kê biên để bồi thường cho bị hại; hoàn cảnh gia đình của các bị cáo thật sự khó khăn cha mẹ già, đang nuôi con nhỏ; cha mẹ tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng thưởng Huân chương. Tuy nhiên, các bị cáo phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, thiệt hại tài sản đặc biệt lớn; Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự và xử phạt mức án cho từng bị cáo là phù hợp, không có cơ sở để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Xét kháng cáo của ông A yêu cầu tách phần trách nhiệm dân sự của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan của ông Lê Tấn H, Lê Minh H, Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị C để giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác là không phù hợp, vì các bị cáo vay tiền sử dụng vào mục đích chuyển nhượng đất thực hiện dự án để chiếm đoạt tài sản, nếu không giải quyết trong vụ án này là không phù hợp. Xét kháng cáo của bà H thì thấy ông T (chồng bà H) cho bị cáo H vay 26.659.000.000 đồng, bị cáo Hùng thế chấp 3 thửa đất làm dự án cho ông T, sau đó sang tên cho ông T là giả cách nhằm thực hiện hợp đồng vay tài sản là phù hợp; ông T sử dụng số tiền này để đấu giá mua dự án Phú Th tại Bình Ph. Hiện nay ông T bị bắt xử lý trong một vụ án khác nên chưa làm việc được với ông Tâm và có liên quan đến hợp đồng đấu giá mua tài sản tại Bình Ph mà ông T đứng tên nên Tòa án cấp sơ thẩm tách ra giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ kháng cáo của các bị cáo, của ông A và bà H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bị cáo H và người bào chữa cho bị cáo H trình bày: Ngay từ ban đầu các bị cáo không có ý thức chiếm đoạt tài sản của bị hại, vì đất các bị cáo mua đã làm hồ sơ gửi tại cơ quan có thẩm quyền để xem xét; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ khi còn công tác trong Công an được Giám đốc Công an tỉnh tặng Giấy khen, gia đình hoàn cảnh khó khăn. Khi bị bắt các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội; tổng tài sản của các bị cáo thu giữ kê biên gồm 6 thửa đất và các tài sản khác trên 160 tỷ đồng thì các bị cáo đã khắc phục hoàn toàn thiệt hại; vì các bị cáo đã làm thủ tục thế chấp 6 thửa đất vay của Ngân hàng 180 tỷ đồng được thẩm định và duyệt nhưng do cận tết chưa vay được tiền trả cho khách hàng thì xảy ra vụ án, nên cần ghi nhận để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; các bị cáo còn chỉ cho Cơ quan điều tra biết hành vi lừa đảo của B, nhận tiền của các bị cáo và hứa hẹn sẽ làm được thủ tục cấp dự án, bị Tòa án tỉnh Bình D xét xử nhưng chưa áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo là chưa phù hợp; nay hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng bị cáo tác động gia đình nộp thêm 50 triệu đồng để khắc phục thêm cho bị hại, nhiều bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51, nên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.
- Người bào chữa cho bị cáo C, V và K trình bày: Các bị cáo tham gia với vai trò giúp sức, mục đích mua đất phân lô bán nền; các bị cáo thiếu hiểu biết pháp luật dẫn đến phạm tội; sau khi xét xử tài sản kê biên để bảo đảm thi hành án, dù gia đình khó khăn nhưng đã nộp mỗi bị cáo 20 triệu đồng để khắc phục hậu quả cho bị hại, thể hiện ý chí muốn bồi thường cho bị hại; đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo nhất trí với lời bào chữa của luật sư và cho rằng tài sản của các bị cáo đảm bảo trả đủ nợ cho bị hại và bị cáo Khoa còn cho rằng trong thời gian công tác tại quân đội, được tặng giấy khen nên xin giảm nhẹ hình phạt.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà H và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà H trình bày: Tại phiên tòa sơ thẩm không triệu tập ông T và người đại diện theo ủy quyền của bà H tham gia vụ án và tách ra giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Tâm, bà H. Bị cáo Hùng thừa nhận vay tiền của ông T, nếu tách ra giải quyết bằng một vụ án khác theo thủ tục tố tụng là không phù hợp, bị cáo H phải tiếp tục trả nợ khi không còn tài sản nào khác là không phù hợp. Bản án sơ thẩm chưa làm rõ hợp đồng vay tiền của bị cáo H đối với ông T; dù ông Tâm không trực tiếp giao tiền cho bị cáo H nhưng số tiền này dùng để đấu giá dự án tại Bình Phước; có hợp đồng bị cáo H vay tiền, thế chấp và chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang tên ông T, nhưng tách ra không xem xét trong vụ án này là không phù hợp; trong vụ án này cũng có người liên quan khác nhưng lại xem xét, công nhận còn của ông Tâm tách ra là không đúng. Yêu cầu sửa bản án sơ thẩm công nhận bị cáo H trả nợ cho ông T, bà H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đối đáp: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ của từng bị cáo đưa ra và cung cấp, những tình tiết nào thuộc khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự thì áp dụng, những tình tiết khác không thuộc khoản 1 thì Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là đúng quy định, nên người bào chữa yêu cầu áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo H là chưa phù hợp. Người bảo vệ quyền lợi cho bà H yêu cầu giải quyết buộc bị cáo H trả 26.659.000.000 đồng tiền vay cho ông T, bà H là chưa đủ cơ sở, vì ông Tâm đứng tên đấu giá và dùng số tiền này đấu giá mua dự án tại Bình Ph; nên Tòa án cấp sơ thẩm đã tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự là phù hợp.
Không ai tham gia tranh tụng thêm, các bị cáo có lời nói sau cùng như sau: Các bị cáo xin lỗi gia đình của bị hại trong vụ án, vì đã gây ra thiệt hại khó khăn cho người bị hại; các bị cáo hứa sẽ phối hợp thi hành án nhanh để bồi thường cho bị hại, nếu còn tài sản sẽ trả cho những người khác mà các bị cáo nợ; các bị cáo hối hận, ăn năn về hành vi đã gây ra và mong Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo sớm về lo cho con nhỏ, cha mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V Lê Văn C Nguyễn Anh K, người bị hại ông Nguyễn Văn A, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Khúc Hồng H đúng quy định của pháp luật, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C và Nguyễn Anh Kh:
. Lời nhận tội của các bị cáo H, V C và K tại phiên tòa, phù hợp với tài liệu Cơ quan điều tra đã thu thập, thể hiện từ tháng 5/2018 đến tháng 11/2019 bị cáo H, V, C và K thành lập nhiều Công ty bất động sản, mua các thửa đất có mục đích sử dụng là đất nông nghiệp, cá nhân đứng tên, không chuyển mục đích sử dụng đất, không được các Cơ quan có thẩm quyền tại tỉnh Bình D chấp thuận nhưng tự vẽ sơ đồ phân lô và đặt tên cho từng Dự án; khi Cơ quan có thẩm quyền không chấp thuận Dự án này thì chuyển sang tên của Dự án khác, nhằm tránh sự quản lý của Cơ quan chức năng và làm cho khách hàng tưởng là Dự án có thật. Các bị cáo làm ra các pano, tờ rơi…quảng cáo, rao bán trên mạng internet, đưa ra thông tin gian dối cho các nhân viên kinh doanh về Dự án như: Đã được cấp phép, các lô đất có đầy đủ pháp lý, đủ điều kiện chuyển nhượng …tổ chức các buổi bán hàng, đưa các nhân viên kinh doanh, khách hàng đến các thửa đất. Tại các thửa đất, các bị cáo thuê mướn máy móc, san lấp bề mặt như Dự án đang thi công. Ngoài ra bị cáo Hùng còn làm giả hợp đồng thoả thuận, giấy ủy quyền đứng tên khống Dự án của người khác; để các khách hàng tưởng thật, tin tưởng đồng ý ký 01 hợp đồng môi giới, 459 hợp đồng chuyển nhượng 459 lô đất ở 07 dự án khác nhau do các bị cáo tự đặt ra và dự án không có quyền chuyển nhượng để chiếm đoạt tổng tài sản của 388 bị hại là 163.006.119.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo H, V, C và K phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo H, V, C và K cho rằng ý thức của các bị cáo không chiếm đoạt tài sản của bị hại là không có cơ sở, vì hành vi của bị cáo mua đất nông nghiệp, chưa làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chưa được Cơ quan có thẩm quyền của tỉnh Bình D chấp thuận Dự án nhưng các bị cáo tự đặt tên cho từng Dự án, tự vẽ sơ đồ phân lô chuyển nhượng, nhận tiền của bị hại với tổng số tiền trên 163 tỷ đồng; hành vi phạm tội của các bị cáo đã hoàn thành kể từ ngày chuyển nhượng, nhận tiền của bị hại. Trong vụ án này các bị cáo H, V, C và K đã thống nhất thực hiện hành vi phạm tội như thành lập Công ty, đưa ra kế hoạch, bàn bạc, phân công nhiệm vụ của từng bị cáo nên hành vi phạm tội của các bị cáo có tổ chức; các bị cáo chiếm đoạt số tiền đặc biệt lớn 163.006.119.000 đồng của 388 bị hại, phạm tội thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm a, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo H là người chủ mưu, cầm đầu, thực hiện tội phạm; bị cáo H quyết định toàn bộ các vấn đề theo kế hoạch từ việc thành lập các Công ty, phân công vai trò, bổ nhiệm đặt cọc mua các thửa đất nông nghiệp, lập Dự án không có thực, tự vẽ sơ đồ phân lô (sơ đồ không được xác định vị trí toạ độ theo quy định pháp luật), chỉ đạo thực hiện mọi hoạt động của các Công ty đối với 07/07 Dự án; tổng giá trị tài sản bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là: 163.006.119.000 đồng của 388 bị hại. Dù sau khi phạm tội, bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã bồi thường cho bị hại được 18.149.360.000 đồng; ngoài ra, số tiền mà các bị cáo chiếm đoạt của các bị hại dùng vào việc tiếp tục mua các thửa đất có mục đích sử dụng là đất nông nghiệp hiện cơ quan Cảnh sát điều tra kê biên để bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo H có cha mẹ là người có công với Cách Mạng theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo H mức án tù chung thân là phù hợp với vai trò, tính chất vụ án và hậu quả mà bị cáo H đã gây ra. Tại cấp phúc thẩm người bào chữa cho bị cáo H cho rằng bị cáo H tố giác hành vi lừa đảo của B chạy Dự án để chiếm đoạt tiền của bị cáo, Tòa án tỉnh Bình D đã xét xử B về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là chưa đủ cơ sở; vì bị cáo H là bị hại đã tố giác hành vi của Bằng để xử lý theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, trong thời gian công tác tại lực lượng vũ trang bị cáo H được tặng thưởng giấy khen của Công an tỉnh, UBND tỉnh Bình D và tác động gia đình nộp thêm 50.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; dù bị cáo Hùng cung cấp tài liệu mới về tình tiết giảm nhẹ. Song hậu quả bị cáo H gây ra đặc biệt nghiêm trọng nên không có cơ sở giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.
Bị cáo V, C, K tham gia vụ án với vai trò là đồng phạm, người thực hành tích cực, có vai trò quan trọng quyết định trong việc tổ chức lừa đảo chiếm đoạt tài sản do bị cáo H khởi sướng, đặt ra. Bị cáo V, C, K là cổ đông được bị cáo H bổ nhiệm phân công bị cáo Vui làm Phó giám đốc phụ trách pháp lý, bị cáo Công làm Trưởng phòng nhân sự, bị cáo Khoa làm giám đốc kinh doanh là những mắt xích quan trọng, có vai trò tham gia trong tất cả các Dự án, tham gia gần như tất cả các lần phạm tội. Bị cáo V, Công tham gia bàn bạc thống nhất về tất cả các vấn đề do Hùng đặt ra, trực tiếp ký kết phần lớn các hợp đồng tại 06 Dự án do các bị cáo đặt ra. Bị cáo K thực hiện 04 Dự án, có vai trò đồng phạm trong 269/459 vụ phạm tội. Bị cáo tham gia bàn bạc thống nhất các vấn đề do H đặt ra trong 04 Dự án (Happy Home 1, Happy Home 2; Green City 1, Green City 2) tham gia ký kết, thu tiền của bị hại tại 4 Dự án trên. Hành vi của các bị cáo V, C, K là đặc biệt nghiêm trọng, số tiền chiếm đoạt liên quan từng bị cáo là: bị cáo Vui trên 153 tỷ của 385 bị hại; bị cáo Công trên 151 tỷ của 385 bị hại; bị cáo K trên 94 tỷ của 232 bị hại. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo V mức án 20 năm tù, bị cáo C 18 năm tù, bị cáo Khoa 12 năm 6 tháng tù là nhẹ so với hành vi phạm tội của từng bị cáo; tại cấp phúc thẩm bị cáo C và K tác động gia đình nộp thêm mỗi bị cáo 20.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại cũng chưa đủ cơ sở để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo (Riêng bị cáo Công đã chấp hành xong Bản án số 64/2022/HS-ST ngày 15/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh C nên không tổng hợp trong bản án này).
. Xét kháng cáo của bị cáo K về phần trách nhiệm dân sự, yêu cầu Tòa án phân chia tỷ lệ để các bị cáo bồi thường thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã phân tích, nhận định từng dự án mỗi bị cáo tham gia chiếm đoạt, để đánh giá vai trò từng bị cáo tham gia trong vụ án, từ đó phân hóa mức hình phạt phù hợp với hành vi, mức độ phạm tội, vai trò của từng bị cáo. Còn về trách nhiệm dân sự các bị cáo đều thừa nhận là cổ đông của Công ty, được Công ty trả lương và phân chia lợi nhuận nếu có; các bị cáo chưa được phân chia lợi nhuận và Tòa án cấp sơ thẩm buộc các bị cáo liên đới bồi thường là có cơ sở.
. Xét kháng cáo của bị hại ông Nguyễn Văn A đề nghị sửa phần trách nhiệm dân sự liên quan đến ông Lê Tấn H, Lê Minh H Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị C thành vụ án dân sự khác là không có cơ sở; vì các bị cáo vay tiền của những người trên dùng để chi phí hoạt động của Công ty, mua tài sản của Công ty, trả cho bị hại nên Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết trong vụ án là phù hợp. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Khúc Hồng H yêu cầu buộc bị cáo H trả số tiền vay 26.659.000.000 đồng cho ông T, bà H thì thấy: Bị cáo H ký hợp đồng vay 26.659.000.000 đồng của ông T, khi vay bị cáo Hùng thế chấp 3 thửa đất cho ông T nhưng không thực hiện việc đăng ký bảo đảm theo quy định của pháp luật; khi bị cáo H thế chấp 3 thửa đất này cho ông T, sau khi bị hại đã phát hiện Dự án không có thật và yêu cầu bị cáo H trả lại tiền; ông T không giao số tiền vay trên cho bị cáo H mà dùng vào thực hiện hợp đồng đấu giá quyền sử dụng đất khu dân cư Phú Th tại Bình Ph của ông T; hiện ông T bị điều tra xử lý trong một vụ án hình sự khác của Bộ Quốc Phòng, nên quan hệ dân sự này Tòa án cấp sơ thẩm tách ra giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu là phù hợp.
. Từ những căn cứ và phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy lời bào chữa của các luật sư cho bị cáo H, V, C và K không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận; quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Bác đơn kháng cáo của bị cáo H, V, C và K; bị hại ông A và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà H; giữ nguyên bản án sơ thẩm. Người kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí phúc thẩm theo điểm a và e khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.
I. Không chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C và Nguyễn Anh K; kháng cáo của bị hại ông Nguyễn Văn A và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Khúc Hồng H; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 141/2023/HS-ST ngày 01/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình D như sau:
Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
1. Về tội danh, hình phạt:
1.1 Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh H, Hoàng Anh V, Lê Văn C, Nguyễn Anh K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1.2 Về hình phạt:
1.2.1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 39; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2020.
1.2.2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Anh V 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2020.
1.2.3. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn C 18 (mươi tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2024.
1.2.4. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh K 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
2. Về biện pháp tư pháp:
- Tạm giữ số tiền 50.000.000 đồng của Nguyễn Thanh H theo Biên lai thu tiền số 0000039 ngày 16/4/2024 và số 0000042 ngày 24/4/2024 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; số tiền 20.000.000 đồng của Lê Văn C theo Biên lai thu tiền số 0000035 ngày 09/4/2024 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; số tiền 20.000.000 đồng của Nguyễn Anh K theo Biên lai thu tiền số 0000040 ngày 16/4/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình D để thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự:
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn A tách phần trách nhiệm dân sự liên quan đến ông Lê Tấn H, Lê Minh H, Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị C thành vụ án dân sự khác.
- Quan hệ dân sự giữa Nguyễn Thanh H và ông Vũ Minh T đối với số tiền 26.659.000.000 đồng về vay mượn và đấu giá tại Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Ph sẽ giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
II. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm a, điểm e khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Nguyễn Thanh H nộp 200.000 đồng;
- Bị cáo Hoàng Anh V nộp 200.000 đồng;
- Bị cáo Lê Văn C nộp 200.000 đồng;
- Bị cáo Nguyễn Anh K nộp 200.000 đồng;
- Bị hại ông Nguyễn Văn A nộp 300.000 đồng;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Khúc Hồng H nộp 300.000 đồng.
III. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - TAND tỉnh Bình D; - VKSND tỉnh Bình D; - Cục THADS tỉnh Bình D; - CA tỉnh Bình D; - Sở tư pháp tỉnh Bình D; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bình D (để tống đạt cho các bc 1b); - Lưu, NTTP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Ý |