- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Ông Nguyễn Bá Ng, sinh năm 1978 - Bị đơn: Bà Trần Thị Hồng Nh , sinh năm 1980"
- Tòa quyết gì? 39; khoản 1 và khoản 4 Điều 91; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1048/2022/HNGĐ-ST Ngày: 20/7/2022 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Lê Tứ Nhị
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Thành Viên
Bà Võ Thị Mai
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tú – Thư ký Toà án Gò Vấp
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa:
Bà Đinh Hương Liên – Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ
thẩm công khai vụ án thụ lý số 545/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2022 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2022/QĐXX - ST ngày 08/6/2022, (Quyết định hoãn phiên tòa số 177/2022/QĐHPT – ST ngày 30/6/2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Bá Ng, sinh năm 1978
Bị đơn: Bà Trần Thị Hồng Nh , sinh năm 1980
Cùng địa chỉ: quận Gò Vấp, TPHCM
(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn là ông Nguyễn Bá Ng và các
tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện:
Ông Nguyễn Bá Ng và bà Trần Thị Hồng Nh chung sống tự nguyện, có đăng
ký kết hôn. Ông bà chung sống có một con chung là Nguyễn Thái S, sinh ngày 09/01/2009. Cuộc sống vợ chồng nhiều năm đầu rất hạnh phúc, nhưng càng về sau thì tính tình, quan điểm của cả hai càng mâu thuẫn. Cả hai đã tự hòa giải để hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện được. Xác định tình cảm vợ chồng không còn nên ông Ng yêu cầu ly hôn bà Nh để ổn định cuộc sống của mình. Ông Ng đề nghị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà Nhị cấp dưỡng nuôi con. Cả hai chung sống không có tài sản chung.
Bị đơn là bà Trần Thị Hồng Nh mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các
văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đến tòa án làm bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà Nh vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án cũng đã tống đạt thông báo về kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho bà Nh nhưng bà Nh vẫn tiếp tục vắng mặt do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Nh.
Tại bản tự khai ngày 13/5/2022, trẻ Nguyễn Thái S trình bày: Trong trường
hợp bố mẹ phải ly hôn thì nguyện vọng được chung sống với cha là ông Nguyễn Bá Ng.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên yêu
cầu như nêu trên. Bị đơn vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của
Thẩm phán và Hội đồng xét xử:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp ly hôn, bị
đơn cư trú tại quận Gò Vấp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử Thẩm phán và Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về người tham gia tố tụng: Việc thu thập chứng cứ, cấp tống đạt giấy tờ cho
Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua diễn
biến tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp nhận thấy có cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà, Tòa án nhận định:
. Về tố tụng:
1.1 Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:
Kết quả thu thập tài liệu chứng cứ thể hiện bị đơn có đăng ký thường trú tại
địa chỉ số --- quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh nên nguyên đơn gửi đơn ly hôn đến Toà án nhân dân quận Gò Vấp là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Các đương sự thương yêu, tìm hiểu và tự nguyện sống chung có đăng ký kết
hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 132, quyển số 01/2008, do Ủy ban nhân dân phường 12, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/7/2002. Nay có yêu cầu ly hôn, xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình.
1.2 Về người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa phù hợp theo quy định tại
khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để giải
quyết vụ án là đã tước bỏ quyền được chứng minh của mình, bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết vụ án vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung quy định tại khoản 4 Điều 91; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu của các đương sự:
2.1 Về mâu thuẫn vợ chồng: Nguyên đơn khai bị đơn thường xuyên vắng nhà,
không còn quan tâm đến gia đình; Nguyên đơn xác định tình cảm vợ chồng dành cho bị đơn không còn nên nguyên đơn yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống của mình.
Về phía bị đơn, bị đơn luôn vắng mặt dù đã được tòa án tống đạt hợp lệ các
văn bản tố tụng tại địa chỉ mà bị đơn đăng ký thường trú nên Tòa án không tiến hành được phiên họp công khai việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình
là phải xây dựng trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng; Các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Việc nguyên đơn xác định tình cảm vợ chồng dành cho bị đơn không còn nên yêu cầu ly hôn thể hiện sự tự nguyện xây dựng hôn nhân gia đình không còn nữa. Việc các đương sự mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm lo lắng cho ai thể hiện đời sống vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau. Bị đơn không đến Tòa án để giải quyết vụ án cho thấy bị đơn không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình, bỏ mặc hôn nhân và gia đình của mình. Cuộc sống hôn nhân của các đương sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên ly hôn là giải pháp tốt nhất để cả hai tự ổn định cuộc sống riêng của mình. Vì vậy, xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở và phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
2.2 Về con chung: Có một con chung là trẻ Nguyễn Thái S, sinh ngày
09/01/2009. Nguyên đơn đề nghị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Điều này phù hợp nguyện vọng của trẻ và vì quyền lợi của trẻ em nên việc giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành là cần thiết và phù hợp với quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử ghi
nhận.
2.3 Về tài sản chung: Nguyên đơn khai không có tài sản chung, không yêu
cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ
luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tại phiên tòa là
phù hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 1 và khoản 4 Điều 91; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình
năm 2014;
Căn cứ Điều 6, 7, 9 và 30 Luật thi hành án dân sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Bá Ng được ly hôn bà Trần Thị Hồng
Nh. Giấy chứng nhận kết hôn số 132, quyển số 01/2008, do Ủy ban nhân dân phường 12, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/7/2002 không còn hiệu lực.
- Về con chung: Giao ông Nguyễn Bá Ng quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng một con chung là Nguyễn Thái S, sinh ngày 09/01/2009 cho đến khi trưởng thành.
Bà Trần Thị Hồng Nh không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom
con mà không ai được cản trở. Trường hợp lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của người không trực tiếp nuôi con.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức
thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Ông Nguyễn Bá Ng không yêu cầu bà Trần Thị Hồng Nh cấp dưỡng nuôi con.
Khi có lý do chính đáng, việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Thay đổi về việc cấp dưỡng nuôi con do các bên thỏa thuận; Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết do không có yêu cầu.
2/ Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) do
ông Nguyễn Bá Ng chịu, nhưng được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng ông Ng đã tạm nộp án phí theo biên lai thu số AA/2021/0048154 ngày 21/4/2022 của Chi cục Thi hành án quận Gò Vấp. Ông Nguyễn Bá Ng đã nộp đủ án phí.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
3/ Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền làm đơn kháng
cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND TPHCM; - VKSNDQGV; - CCTHADS QGV; - Nơi cấp GCNKH; - Đương sự; - Lưu VP, HS. | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Lê Tứ Nhị |