- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà A - ông P"
- Tòa quyết gì? 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 2 Điều 227 và Điều 228, 235, 238, 266, 271, 273
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1045/2018/HNGĐ-ST Ngày: 26-9-2018 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Thế Đông
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hoàng
Bà Phan Thị Diệu Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Thành – Thư ký Tòa án nhân dân
quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thúy Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 97/2018/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 01
năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
200/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà A; địa chỉ: Đường M, Phường N, quận O, Thành phố Hồ
Chí Minh.
- Bị đơn: Ông P; địa chỉ: Đường X, phường Y, quận Tân Phú, Thành phố
Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
bà A trình bày: Bà và ông P tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy
ban nhân dân Phường P, huyện Q, tỉnh Đồng Tháp ngày 28/6/2008. Thời gian đầu
chung sống hạnh p nhưng đến khoảng tháng 8 năm 2010 bà phát hiện ông P không
chung thủy, có tình cảm với người phụ nữ khác. Từ đó, vợ chồng thường xuyên
cãi vã, bất đồng trong quan điểm sống, mâu thuẫn kéo dài nhưng không giải quyết
được. Khoảng đầu năm 2011, bà và con đã về ở nhà mẹ ruột tại địa chỉ Đường M,
Phường N, quận O và sống ly thân cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng
không còn, không có khả năng hàn gắn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết được ly
hôn với ông P.
Về con chung: Bà và ông P có một con chung là P, sinh ngày /xx8/2009.
Khi ly hôn, bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con. Hiện bà có công việc ổn định, thu nhập trung bình khoảng 9.000.000 đồng/tháng nên đảm bảo được điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Do đó, bà không yêu cầu ông P cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung hay nợ chung nên không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông P đã được Tòa án thông báo
thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được vì ông P đã được
Tòa án thông báo, triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ hai lần liên tiếp mà vẫn cố tình vắng mặt. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/5/2018, bà A có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật
tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền: Bà A khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông P; bị đơn là ông
P đang cư trú tại quận Tân Phú. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và Điểm a, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục: Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, ông P vắng mặt tại phiên
tòa không có lý do, bà A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và Giấy
chứng nhận kết hôn Số xx/KH, Quyển số đăng ký ngày ngày xx/6/2008 tại Ủy ban nhân dân Phường P, thị xã Q, tỉnh Đồng Tháp thì có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông P là hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của bà A: Căn cứ vào lời khai của bà A, Hội đồng
xét xử nhận thấy vợ chồng bà A và ông P bất đồng về quan điểm sống, phát sinh mâu thuẫn đã lâu nhưng không thể hàn gắn được. Mặt khác, ông bà sống ly thân từ năm 2011, giữa hai người đã không còn đời sống chung của vợ chồng và mỗi người đều có cuộc sống riêng, không còn yêu thương, chăm sóc, quan tâm lẫn
nhau. Bị đơn là ông P vắng mặt khi được triệu tập làm việc, hòa giải tại Tòa án,
cũng như tại phiên tòa. Qua đó, Hội đồng xét xử nhận thấy ông P thể hiện thái độ
bỏ mặc kết quả giải quyết của Tòa án, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ
chồng. Kết quả xác minh mâu thuẫn gia đình ngày 30/7/2018 phù hợp một phần
lời khai của nguyên đơn là hiện nay hai người không còn chung sống với nhau.
Từ những lý do vừa nêu, xét thấy tình trạng hôn nhân của bà A và ông P đã trầm
trọng, đời sống chung của vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt
được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà A theo quy định tại
Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà A xác định vợ chồng có một con chung là P, sinh
ngày xx/8/2009. Khi ly hôn, bà A yêu cầu được trực tiếp nuôi con và ông P không
có ý kiến đối với yêu cầu này; bà A có thu thập ổn định, đủ điều kiện nuôi con.
Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được là người trực tiếp nuôi con chung
của bà A. Ghi nhận sự tự nguyện của bà A về việc không yêu cầu ông P cấp dưỡng
cho con.
Về tài sản: Bà A xác định không có tài sản chung hay nợ chung, không
yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng do nguyên
đơn là bà A chịu.
Các kiến nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung
vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điều 36, Điểm a Khoản 1 Điều
39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 2 Điều 227 và Điều 228, 235, 238, 266, 271, 273
của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 57, 58, 59, 81, 82 và Điều 83 của
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà A.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà A được ly hôn với ông P.
2. Về con chung: Bà A và ông P có một con chung là P, sinh ngày
xx/8/2009. Giao con chung cho bà A trực tiếp nuôi.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà A về việc không yêu cầu ông P cấp dưỡng
cho con.
Ông P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng
không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi
con.
Vì lợi ích của con khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ thức theo
quy định của pháp luật, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
3. Về tài sản chung: Bà A xác định là không có tài sản chung hay nợ chung,
không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
4. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng do bà
A chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0010603 ngày 31/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà A đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bà A, ông P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q.Tân Phú; - THADS Q.Tân Phú; - UBND P.P, TX.Q, T.Đồng Tháp; - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thế Đông |