- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nguyên đơn Huỳnh thiện P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Huỳnh Thiện P.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1043/2021/HNGĐ-ST Ngày: 18-10-2021 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Hễ;
2. Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Cao Hoàng Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 147/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số ........./2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Thiên P, sinh năm 1979
Địa chỉ: 124 Tầng 3, đường T, phường B, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Ito K, sinh năm 1973
Quốc tịch: Nhật Bản
Địa chỉ: 504, 6-9-7 Naruse, Machida-Shi, Tokyo, Japan. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/5/2020, Bản tự khai ngày 10/6/2020 và trong quá trình tố tụng, ông Huỳnh Thiện P - nguyên đơn trình bày:
Ông và bà Ito K quen biết và tìm hiểu nhau vào năm 2007 sau đó tự nguyện đăng ký kết hôn tại Sở hành chính Tokyo-To, Machida-Shi, Nhật Bản ngày 23/9/2007; đến năm 2009, Ông và bà Ito K đến Đại sứ quán nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tại Tokyo, Nhật Bản trình báo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (theo Giấy xác nhận của Đại sứ quán ngày 09/12/2009).
Sau khi kết hôn, Ông và bà Ito K chung sống với nhau tại Nhật Bản. Trong thời gian sống chung vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, lối sống, văn hóa nên sau đó Ông trở về Việt Nam sinh sống, vợ chồng không còn liên lạc với nhau nữa.
Ông P cho rằng cuộc sống vợ chồng giữa Ông và bà Ito K không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn để sớm ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông P khai không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tòa án đã thực hiện việc ủy thác tư pháp để thông báo thời gian tổ chức các phiên họp hòa giải nhằm tạo điều kiện cho các bên đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng bà Ito K không có mặt.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn ông Huỳnh Thiện P vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như đã nêu trên đồng thời có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn bà Ito K vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ giai đoạn thụ lý đến khi đưa ra xét xử và tại phiên tòa, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Thiện P về việc ly hôn với bà Ito K.
Đối với con chung, nợ chung và tài sản chung: Ông P khai không có và không yêu cầu xem xét, giải quyết nên đại diện Viện kiểm sát không phát biểu quan điểm về vấn đề này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
Quan hệ tranh chấp giữa ông Huỳnh Thiện P và bà Ito K là Ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có nơi cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, bị đơn có nơi cư trú tại Nhật Bản nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình tố tụng, ngày 22/12/2020 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã gửi Văn bản về việc Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập tham gia tố tụng cho bị đơn bà Ito K theo quy định tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 12/10/2021, Tòa án nhận được văn bản số 1968/BTP-PLQT ngày 08/7/2021 của Bộ Tư pháp thông báo cơ quan có thẩm quyền của Nhật Bản đã thực hiện ủy thác tư pháp theo yêu cầu của Toà án bằng phương thức tống đạt trực tiếp cho bà Ito K vào ngày 03/4/2021; tuy nhiên, đến ngày mở phiên tòa lần thứ II bị đơn bà Ito K vẫn không có mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 5 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 08/12/2020, nguyên đơn ông Huỳnh Thiện P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử nhận thấy trong quá trình tố tụng nguyên đơn đã cung cấp lời khai và xác định cụ thể yêu cầu khởi kiện nên việc nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa không gây ảnh hưởng hoặc làm thay đổi nội dung vụ án đồng thời phù hợp với khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự nên chấp nhận.
. Về yêu cầu của đương sự:
Theo Giấy xác nhận của Đại sứ quán nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tại Tokyo, Nhật Bản ngày 09/12/2009 về việc ông Huỳnh Thiện P và bà Ito K đến trình báo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn tại Sở hành chính Tokyo-To, Machida-Shi, Nhật Bản ngày 23/9/2007 nên có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Huỳnh Thiện P và bà Ito K là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của nguyên đơn ông Huỳnh Thiện P thì hiện ông P đang sinh sống, làm việc ở Việt Nam còn bà Ito K ở Nhật Bản nên vợ chồng không có điều kiện ở gần nhau, mục đích hôn nhân không đạt được; bên cạnh đó, trong thời gian chung sống ở Nhật vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn nên ông P trở về Việt Nam. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã làm thủ tục ủy thác tư pháp đồng thời thông báo cho bà Ito K biết yêu cầu ly hôn của ông P và ngày Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử (lần thứ I, lần thứ II), phía bà Ito K đã nhận được văn bản nhưng không có ý kiến trả lời và đến ngày mở phiên tòa bị đơn vẫn không có mặt; điều này cho thấy bà Ito K không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân với ông P, như vậy việc hàn gắn là không còn biện pháp.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Huỳnh Thiện P và bà Ito K đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông P có yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống là nguyện vọng chính đáng đồng thời phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên có cơ sở chấp nhận.
Về con chung, nợ chung và tài sản chung: Ông P khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn ông Huỳnh Thiện P chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147 và Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Huỳnh Thiện P.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Thiện P được ly hôn với bà Ito K.
- Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Ông Huỳnh Thiện P chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số AA/2019/0091788 ngày 13/5/2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông P không phải nộp thêm án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Ông Huỳnh Thiện P được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Bà Ito K được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại Tp.HCM; - VKSND Cấp cao tại Tp.HCM; - VKSND Tp.HCM; - Cục THADS Tp.HCM; - UBND Tp. HCM; - Các đương sự; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Bích Loan |