vanban.org

Bản án 104 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Minh N.

Về hôn nhân: Ông Võ Minh N ly hôn bà Nguyễn Thị M. Giấy chứng nhận kết hôn số 176, đăng ký ngày 21/12/2020 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Vx, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận giữa bà Nguyễn Thị M và ông Võ Minh N hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Minh N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: /2023/HN&GĐ-ST
Ngày: 06-9-2023
“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông M Thuận.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Thanh Bình;

2/ Ông Lưu Trọng Kim.

Thư ký phiên toà: Ông Bùi Chí Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viên kiểm sát nhân dân dân huyện Đức Linh tham gia phiên tòa: Không.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 269/2023/TLST-HN&GĐ ngày 14 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2023/QĐXXST-HN&GĐ ngày 16 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Võ Minh N, sinh năm 1985

Nơi cư trú: Tổ 50/15, Ô 5, khu phố Hải Hà 1, thị trấn Lh, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1984;

Nơi cư trú: Số 91, đường Cao Bá Đạt, khu phố 7, thị trấn Vx, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa, nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Về hôn nhân: Vào ngày 21/12/2020, ông N và bà M đã kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Vx, huyện Đức Linh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn về tiền bạc; sau đó ông N và bà M đã ly thân không còn sống chung với nhau nữa. Nay ông N xác định vợ chồng không còn tình cảm yêu thương quý trọng nhau, mâu thuẫn thật sự trầm trọng, nên ông N yêu cầu ly hôn bà M.

Về con chung, tài sản chung và nợ: Ông N khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn trình bày: Vào năm 2020, bà M và ông N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Vx; vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn; nay ông N yêu cầu giải quyết ly hôn thì bà M đồng ý.

Về con chung, tài sản chung và nợ: Bà M khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn, bôi đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhập yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể:

Về hôn nhân: Chấp nhận cho ông Võ Minh N ly hôn bà Nguyễn Thị M.

Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự về việc không yêu cầu giải quyết vấn đề con chung, tài sản chung và nợ trong vụ án này.

Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn Võ Minh N khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với bị đơn Nguyễn Thị M; bị đơn có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện cư trú tại khu phố 7, thị trấn Vx, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Căn cứ các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Về tố tụng:

Nguyên đơn, bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Việc tham gia phiên tòa của Kiểm sát viên: Vụ án không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cho nên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh không tham gia phiên tòa là có căn cứ.

Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ án như sau:

Về hôn nhân: Căn cứ bản sao giấy chứng nhận kết hôn số 176, đăng ký ngày 21/12/2020 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Vx, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, có căn cứ khẳng định ông N và bà M tự nguyện kết hôn vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Vx, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa ông N và bà M được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Ông N và bà M tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đi đến hôn nhân; sau khi tổ chức lễ cưới thì ông bà sống chung với nhau như vợ chồng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, dẫn đến sống ly thân, không còn quan hệ như vợ chồng; quá trình hòa giải ông N xác định tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết yêu cầu được ly hôn bà M; bà M không đến tham gia tố tụng nhưng có ý kiến đồng ý ly hôn ông N.

Từ những phân tích trên cho thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông N và bà M đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông N đối với bà M.

Về con chung, tài sản chung và nợ: Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của ông N và bà M về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên tòa phù hợp với những nhận định nêu trên, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 138; các Điều 143, 144, 147, 227, 228, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 9, 51, 53, 54, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Minh N.

1. Về hôn nhân: Ông Võ Minh N ly hôn bà Nguyễn Thị M.

Giấy chứng nhận kết hôn số 176, đăng ký ngày 21/12/2020 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Vx, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận giữa bà Nguyễn Thị M và ông Võ Minh N hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về con chung, tài sản chung và nợ trong vụ án này.

3. Về án phí: Ông Võ Minh N phải nộp số tiền 300.000đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo biên lai thu số 0015155 ngày 14/6/2023. Ông N đã nộp đủ tiền án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ