- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc T-Nguyễn Thị Huỳnh N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Ngọc T đối với chị Nguyễn Huỳnh N, cụ thể tuyên:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 104/2026/HNGĐ-ST Ngày: 17-6-2026 V/v: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Văn Mưa Lớn
- Ông Nguyễn Chí Hữu
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Triệu Anh Thư- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phan Trọng Thế - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ hôn nhân và gia đình án thụ lý số: 242/2026/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2026 về việc: “Tranh chấp về hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2026/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 134/2026/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1998; Nơi cư trú: ấp A, xã L, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Huỳnh N, sinh năm 1999; Nơi cư trú: ấp T, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
Tất cả đều vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/04/2026, trong suốt quá trình tố tụng anh Nguyễn Ngọc T trình bày:
Anh và chị N tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2018 có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là xã L, tỉnh Đồng Tháp) vào ngày 22/02/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2021 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với chị N.
Về con chung: Sau khi ly hôn anh yêu cầu chị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Bảo N1, sinh ngày 13/4/2019, anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Chị Nguyễn Huỳnh N vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Vĩnh Long phát biểu:
- Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng như đương sự nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản liên quan quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên vi phạm quy định tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T đối với chị N cụ thể:
+ Về hôn nhân: Anh Nguyễn Ngọc T và chị Nguyễn Huỳnh N được ly hôn với nhau.
+ Về con chung: Sau khi ly hôn chị Nguyễn Huỳnh N tiếp nuôi dưỡng con chung tên chung tên Nguyễn Bảo N1, sinh ngày 13/4/2019, anh Nguyễn Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Huỳnh Như K yêu cầu.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Ngọc T khai không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào lời trình bày của đương sự và kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Căn cứ vào đơn khởi kiện đề ngày 13/4/2026 của anh Nguyễn Ngọc T đối với chị Nguyễn Huỳnh N thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”. Quan hệ pháp luật tranh chấp nêu trên được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long.
Chị Nguyễn Huỳnh N có nơi cư trú tại xã P, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long thụ lý đúng thẩm quyền.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho chị Nguyễn Huỳnh N đến để tham gia phiên tòa nhưng chị N vắng mặt không rõ lý do, đồng thời trong quá trình tố tụng anh T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh T và chị N là phù hợp.
[2] Về nội dung tranh chấp: 2.1 Về hôn nhân: Anh Nguyễn Ngọc T và chị Nguyễn Huỳnh N tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn vào ngày 22/02/2019 tại UBND xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là xã L, tỉnh Đồng Tháp) nên được xem là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống chị anh T và chị Như không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được và đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Xét thấy, yêu cầu xin ly hôn của anh T là có căn cứ nên được chấp nhận, bởi lẽ sau khi Toà thụ lý hồ sơ vụ án đã ra thông báo thụ lý vụ án, thông báo hoà giải cho chị N biết để anh đến Toà án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long tham gia hoà giải với anh T nhằm tìm biện pháp tích cực để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ xây dựng gia đình hạnh phúc, nhưng chị N vẫn cố tình không đến, điều đó chứng chị N cũng không có thiện chí đoàn tụ với anh T. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T đối với chị N là phù hợp.
2.2. Về con chung:
Trong thời gian chung sống anh Nguyễn Ngọc T và chị Nguyễn Huỳnh N có một con chung tên, Nguyễn Bảo N1, sinh ngày 13/4/2019. Anh T yêu cầu chị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị N không có ý kiến, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hiện cháu N1 đang sống chung với chị N, do đó để đảm bảo cuộc sống của cháu N1 không bị thay đổi, không làm ảnh hưởng đến tâm lý của cháu, Hội đồng xét xử thấy rằng nên giao cháu N1 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về mức cấp dưỡng nuôi con: Do chị Nguyễn Huỳnh Như K yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
2.3 Về tài sản chung: Anh Nguyễn Ngọc T khai không có nên không xem xét giải quyết.
2.4 Về nợ chung: Anh Nguyễn Ngọc T khai không có nên không xem xét giải quyết.
[3] Về quan điểm của Viện kiểm sát: Quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm anh Nguyễn Ngọc T có nghĩa vụ chịu là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 điểm, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).
- Căn cứ các điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Ngọc T đối với chị Nguyễn Huỳnh N, cụ thể tuyên:
1. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Ngọc T và chị Nguyễn Huỳnh N được ly hôn với nhau.
2. Về con chung:
Sau khi ly hôn chị Nguyễn Huỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Bảo N1, sinh ngày 13/4/2019, anh Nguyễn Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Huỳnh Như K yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Anh Nguyễn Ngọc T khai không có nên không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Anh Nguyễn Ngọc T khai không có nên không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng anh Nguyễn Ngọc T có nghĩa vụ nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh T đã nộp theo biên lai thu số 0008868 ngày 12/5/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án nơi thường trú./.
| Nơi nhận: - TAND Vĩnh Long (1b); - VKSND Khu vực 6 – Vĩnh Long (2b); - UBND xã Long Tiên (1b); - THADS tỉnh Vĩnh Long (1b); - Những người tham gia tố tụng (2b); - Lưu HS, VP, THA (4b). | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Hồng Diễm |