vanban.org

Bản án 104/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 01/2024/NQ- HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Tuyết M đối với anh Nguyễn Bá T. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết M được ly hôn với anh Nguyễn Bá T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Tuyết M - Nguyễn Bá Thuận"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 01/2024/NQ- HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 10/3/2026
V/v: tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Chiến.

2. Bà Nguyễn Thị Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thuỷ Tiên - Kiểm sát viên. Ngày 10 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 418/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2025 về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2026/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 2000. Số CCCD xxxxxxxxxxxx do Cục C1 về TTXH cấp ngày 31/7/2023.

Đăng ký thường trú tại: Thôn E, xã H, thành phố Hà Nội.

Xin vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Bá T, sinh năm 1998. Số CCCD xxxxxxxxxxxx.

Đăng ký thường trú tại: Thôn G, xã T, Thành phố Hà Nội.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Tuyết M trình bày: Chị và anh Nguyễn Bá T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 04 tháng 5 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, nay là xã T, thành phố Hà Nội. Ngay sau khi kết hôn, vợ chồng chị cùng sang nước Nhật Bản sống và làm việc theo diện du học sinh và thực tập sinh. Đến tháng 7/2022 thì chị quay về Việt Nam để sinh con. Do không hoà hợp với bố mẹ chồng nên chủ yếu chị và con sống tại nhà bố mẹ đẻ. Trong thời gian sống xa nhau, anh chị đã phát sinh mâu thuẫn do anh T có quan hệ tình cảm bất chính với người phụ nữ khác, chị đã tha thứ nhưng sau đó anh T vẫn không thay đổi. Khi chị mời bố mẹ chồng đến để nói chuyện này thì không nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của họ. Đến khoảng tháng 7/2023 vợ chồng chị không còn liên lạc để chia sẻ, quan tâm đến nhau nữa, bất đồng về quan điểm sống. Anh T có liên lạc về thì cũng chỉ để trao đổi, hỏi thăm về người con của anh chị. Từ năm 2024 đến nay thì vợ chồng hoàn toàn không còn liên lạc với nhau. Anh T thỉnh thoảng có liên lạc với mẹ chị để hỏi thăm về người con của anh chị. Hơn nữa, thời gian vừa qua anh T cũng gây nhiều phiền phức, ảnh hưởng lớn đến công việc bán hàng online của chị, có thời điểm khiến chị phải tạm dừng công việc này. Nay chị xác định vợ chồng không thể đoàn tụ nên từ chối tham gia hòa giải, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Về con chung: Chị và anh T có một con chung là Nguyễn Bá Chí T1 sinh ngày 30/10/2022. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi con chung và đề nghị anh T cấp dưỡng nuôi con 8.000.000đ (tám triệu đồng)/tháng. Theo chị biết hiện anh T vẫn ở Nhật Bản nhưng chị không biết địa chỉ cụ thể vì sau khi chị trở về Việt Nam thì anh T cũng không còn làm ở công ty nữa mà bỏ ra ngoài làm nên thuộc diện nhập cư bất hợp pháp. Chị nghe được thông tin anh T đi làm và có thu nhập nên chị mới đề nghị mức cấp dưỡng này. Trước đây anh T vẫn gửi tiền về cho chị để chị trả nợ cho anh ấy và nuôi con nhưng khoảng 1 năm nay anh T không gửi tiền về nữa.

Về tài sản chung và công nợ chung: Chị xác định vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Bá T hiện không sinh sống tại nơi đăng ký thường trú ở xã T, thành phố Hà Nội. Chị M và bố mẹ đẻ của anh T không biết địa chỉ hiện nay của anh T để cung cấp cho Tòa án. Do đó Tòa án đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh T và giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Xác minh đối với bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Bá T được biết: Sau khi tổ chức đám cưới được 1 tuần thì chị M và anh T cùng sang Nhật Bản lao động. Được khoảng 2 tháng thì chị M trở về Việt Nam để sinh con, anh T vẫn ở lại đó lao động cho đến nay. Sinh con được một tháng thì chị M đưa con về bên nhà mẹ đẻ, thỉnh thoảng hai mẹ con có qua lại gia đình ở một vài ngày với ông bà rồi lại về nhà mẹ đẻ. Anh T hàng tháng vẫn gửi tiền về cho chị Mai C nuôi con. Ông bà không biết giữa hai vợ chồng anh chị có mâu thuẫn gì hay không. Khoảng 1 năm nay chị M không còn đi lại với gia đình nữa. Nếu anh T và chị M ly hôn, ông bà mong muốn chị M giao con chung của anh chị là cháu T1 cho ông bà chăm nuôi thay anh T. Tại phiên tòa:

- Chị M có đơn xin vắng mặt tại phiên toà, các yêu cầu khởi kiện chị vẫn giữ nguyên. Anh T vắng mặt nên không có ý kiến.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 57, 59, 62, 81, 82, 83, 84 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ- HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị định 293/2025/NĐ-CP, đề nghị: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Tuyết M. Xử chị M và anh T được ly hôn với nhau. Giao cháu T1 cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Buộc anh T cấp dưỡng nuôi con từ 2.365.000đ/tháng đến 4.730.000đ/tháng cho tới khi cháu T1 đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, công nợ chung không xem xét. Chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Anh T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về thủ tục tố tụng:

Chị Nguyễn Thị Tuyết M khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Bá T hiện có đăng kí thường trú tại thôn G, xã T, thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Hà Nội theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh T hiện không sinh sống tại nơi đăng ký thường trú. Xác minh đối với bố mẹ anh T được biết anh T vẫn lao động ở Nhật Bản nhưng gia đình không biết địa chỉ nơi anh đang sinh sống, làm việc nên không cung cấp được cho Toà án. Toà án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T, bố mẹ anh T cam kết sẽ gửi các văn bản của Toà án cho anh T thông qua mạng xã hội Facebook mà anh T vẫn dùng để liên lạc về với gia đình. Tuy nhiên, anh T vẫn vắng mặt, không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị M. Công văn số 611/QLXNC-QLXC ngày 09/01/2026 của Phòng Q Bộ C2 thể hiện anh Nguyễn Bá T “chưa có thông tin xuất nhập cảnh” trên hệ thống Cơ sở dữ liệu Quốc gia về xuất nhập cảnh. Do đó, Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. [2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết M kết hôn với anh Nguyễn Bá T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 04 tháng 5 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, nay là xã T, thành phố Hà Nội. Xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ lời khai của chị M và bố mẹ anh T cho thấy từ khoảng tháng 7/2022 (khoảng 2 tháng sau khi kết hôn) anh chị đã không sống cùng nhau, chị M quay về Việt Nam để sinh con và ở lại cho đến nay. Ban đầu vợ chồng sống xa nhau là vì chị M phải quay về Việt Nam để sinh con nhưng chính trong thời gian này anh chị đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ sự mất tin tưởng của chị M về lòng thuỷ chung của anh T. Sau đó, anh chị cũng hoà giải và vợ chồng lại thường xuyên liên lạc để chia sẻ với nhau nhưng chỉ được một thời gian mâu thuẫn tiếp tục xảy ra vẫn cùng một nguyên nhân cũ. Bên cạnh đó, anh chị cũng nảy sinh những bất đồng về quan niệm, lối sống. Việc vợ chồng không sống cùng nhau cũng ảnh hưởng đến việc hàn gắn tình cảm giữa hai người. Từ năm 2024 đến nay anh chị hoàn toàn không còn liên lạc với nhau, chị M cũng không còn đưa con về với bố mẹ anh T. Điều đó cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên việc ly hôn là cần thiết. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M đối với anh T.

- Về con chung: Anh chị có một con chung là Nguyễn Bá Chí T1 sinh ngày 30/10/2022. Theo lời khai của chị M và ý kiến của bố mẹ anh T thể hiện từ khi chị M sinh cháu T1, chị vẫn là người trực tiếp chăm nuôi, anh T không về thăm con lần nào nhưng có liên lạc về hỏi thăm và gửi tiền nuôi con. Nay ly hôn, chị M có nguyện vọng được nuôi con và đề nghị anh T cấp dưỡng nuôi con 8.000.000đ (Tám triệu đồng)/tháng. Hội đồng xét xử thấy, việc giao cháu T1 cho chị M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật hôn nhân gia đình. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Chị M không cung cấp được tài liệu chứng minh về thu nhập của anh T nhưng chị M và bố mẹ anh T đều khai trước đây anh T vẫn luôn gửi tiền về cho chị, điều đó thể hiện anh T có thu nhập nên cần buộc anh T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với cháu T1. Căn cứ quy định của Chính phủ về mức lương tối thiểu vùng tại nơi người có nghĩa vụ cấp dưỡng đang cư trú, xác định khu vực xã T, thành phố Hà Nội thuộc vùng I với mức lương tối thiểu là 5.310.000đ/tháng (áp dụng từ ngày 01/01/2026). Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu T1 số tiền 2.700.000đ/tháng kể từ tháng 3/2026 cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định thay đổi khác. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Chị M phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Anh T phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 01/2024/NQ- HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Tuyết M đối với anh Nguyễn Bá T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết M được ly hôn với anh Nguyễn Bá T.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Bá Chí T1 sinh ngày 30/10/2022 cho chị Nguyễn Thị Tuyết M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác. Anh Nguyễn Bá T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Anh Nguyễn Bá T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu T1 số tiền 2.700.000đ (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng)/tháng kể từ tháng 3/2026 cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định thay đổi khác.

3. Về tài sản chung và công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tuyết M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0020204 ngày 18/12/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Anh Nguyễn Bá T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Tuyết M và anh Nguyễn Bá T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND KV 10-HN;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- THADS TP Hà Nội;

- Các đương sự;

- UBND xã Phùng Xá, Thạch Thất nay là xã Tây Phương, Hà Nội (số đăng kí kết hôn 27/2022);

- Lưu:hồ sơ vụ án; VPTA;

Đào Thị Thúy

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các Hội thẩm nhân dânThẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS:

Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo:

(1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam).

(2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”).

(3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày.

(4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”).

(5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1).

(6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân.

(7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”.

(9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”.

(11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ).

(12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4).

(13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó.

(14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”.

Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH T2).

Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...).

(15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn L nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào.

(16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13).

(17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14).

(18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15).

(22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên).

(23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).

(24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).

(25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự. (26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ].

(27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án.

(29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:

Cỡ chữ