- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cang Bảo H và ĐP - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 104/2025/HS-ST Ngày: 29-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Bùi Thị Bích Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quang
Ông Đinh Ngọc Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2025/HSST ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2025/HSST-QĐ ngày 17/4/2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Cang Bảo H, sinh năm: 1993; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Cần Thơ; nơi đăng ký thường trú: ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: Khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 4/12; Họ tên cha: Cang Bảo T, sinh năm 1959; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1957; Gia đình bị cáo có 07 anh, chị em, bị cáo là con thứ 6 trong gia đình. Sống chung như vợ chồng với Võ Bạch Kim N1, sinh năm 1992; Có 01 người con sinh năm 2013.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 16/11/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn là 24 tháng.
Nhân thân:
- Ngày 30/3/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, TP . xét
xử 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 12/2011/HSST (Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/12/2011, chấp hành xong án phí ngày 12/10/2011);
- Ngày 30/10/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, TP . xét xử 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 01/2017/HSST (Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/10/2018, chấp hành xong án phí ngày 07/5/2020);
- Ngày 08/10/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn là 24 tháng.
Bị cáo bị giam giữ từ ngày 18/8/2024 (Có mặt).
2. Họ và tên: Vũ Quang C, sinh năm: 1984; Tên gọi khác: C; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Đồng Nai; Nơi cư trú: G, tổ H, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Họ tên cha: Vũ Văn P, sinh năm 1962; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1966; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình. Họ và tên vợ: Ngô Thị Mỹ P1, sinh năm 1981; Có 01 người con sinh năm 2008.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị giam giữ từ ngày 18/8/2024 (Có mặt).
- Bị hại: Anh Hoàng Văn T1, sinh năm 2002.
Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của anh T1: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(Anh T1 và bà Q vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 2 giờ 30 phút ngày 17/08/2024 Vũ Quang C và Cang Bảo H cùng bàn bạc với nhau sử dụng xe môtô biển số 65B7- 3071 lưu thông trên tuyến QL1A theo hướng từ thành phố B về huyện T tìm tài sản sơ hở của người dân để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. H điều khiển xe mô tô biển số 65B7-3071 chở C, khi đi đến trước phòng khám Y thuộc ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai, thì C và H phát hiện anh Hoàng Văn T1, sinh năm 2002, HKTT: ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, đang nằm ngủ trên ghế đá kế bên có dựng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu trắng không gắn biển số, nên H dừng xe để C đi lại gần thì thấy anh T1 đã ngủ say. C đi ra ngoài đường đứng cảnh giới và ra hiệu cho H đi đến chỗ anh T1 lấy chìa khóa xe trên tay của anh T1 rồi dắt xe đi ra khoảng 10m thì đề khởi động máy và điều khiển xe đi theo quốc lộ A về hướng thành phố B, C điều khiển xe mô tô 65B7- 3071 chạy theo sau. H và C chạy xe về nhà nghỉ “Tường Vi” đã thuê trước đó thuộc phường T, thành phố B để cất xe vừa trộm cắp được. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày H và C đến tiệm sửa xe mô tô của anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1987 thuộc phường T, thành phố B, mục đích để bán xe vừa trộm cắp được. Anh H1 nghi ngờ đây là tài sản trộm cắp mà có nên anh H1 gọi điện thoại báo Công an phường T, thành phố B xác minh làm rõ. Lực lượng Công an phường T đến hiện trường rồi đưa C và H về trụ sở Công an phường để làm rõ nguồn gốc xe, tại Công an phường T, C và H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp vào ngày 17/08/2024 tại trước phòng khám Y thuộc, ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Ngày 18/08/2024 Công an xã H 3 tiếp nhận các đối tượng cùng vật chứng để tiếp tục xác minh làm rõ.
Ngày 24/9/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra có yêu cầu định giá tài sản số 3188/YC-ĐTTH gửi Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T để định giá tài sản. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 104/BB-HĐĐGTS ngày 30/09/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, kết luận: “Xe môtô hiệu Honda Wave alpha, có số máy: JA70E-0144048, số khung: RLHJA3936PY708264 đã qua sử dụng. Trị giá: 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng)”.
Ngày 23/8/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố vụ án và Quyết định khởi tố bị can đối với Cang Bảo H và Vũ Quang C về tội “Trộm cắp tài sản”. Quá trình điều tra các bị can đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha, chưa đăng ký biển số, có số máy: JA70E-0144048, số khung: RLHJA3936PY708264 đã qua sử dụng; 01 xe môtô biển số 65B7- 3071.
Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Cang Bảo H và Vũ Quang C đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên phù hợp lời khai bị hại và các chứng cứ, tài liệu thu thập tại hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về bản kết luận định giá tài sản số 104/BB-HĐĐGTS ngày 30/09/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T.
Tại bản Cáo trạng số 71/CT-VKSTB ngày 26 tháng 02 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố bị cáo Cang Bảo H và Vũ Quang C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố theo bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 173, điểm k khoản 2 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đề nghị xử phạt bị cáo Cang Bảo H từ 01 năm 08 tháng đến 02 năm 02 tháng tù; Vũ Quang C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha, chưa đăng ký biển số, có số máy: JA70E-0144048, số khung: RLHJA3936PY708264 đã qua sử dụng, có nguồn gốc hợp pháp, Cơ quan CSĐT ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là anh Hoàng Văn T1.
- Đối với xe môtô biển số 65B7- 3071 kết quả xác minh trên hệ thống dữ liệu đăng ký xe (qua phiếu trả lời xác minh, kèm theo) kết quả không xác định được chủ sở hữu phương tiện, Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: anh Hoàng Văn T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu về dân sự.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi của các bị cáo là sai, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về thủ tục tố tụng: Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa; Quyết định hoãn phiên tòa tuy nhiên vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại.
Bị cáo Cang Bảo H và Vũ Quang C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận: Vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 17/8/2024, tại trước cửa phòng khám Y, ấp T, xã H 3, huyện T, Cang Bảo H và Vũ Văn C1 đã lén lút trộm cắp 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave anpha, màu sơn trắng, chưa được cấp biển số, có số máy: JA70E-0144048, số khung: RLHJA3936PY708264 của anh Hoàng Văn T1, trị giá 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy hành vi của các bị cáo Cang Bảo H và Vũ Quang C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Tính chất của vụ án là ít nghiệm trọng nhưng hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo có khả năng nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do có tư tưởng muốn hưởng thụ, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu xài nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp sự trừng trị của pháp luật nên cần áp dụng hình phạt tù mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với tính chất đồng phạm song ở mức độ giản đơn. Các bị cáo không có sự phân công, bàn bạc cụ thể mà các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, H là người trực tiếp lấy chìa khóa và trực tiếp điều khiển xe máy bỏ chạy, còn C là người cảnh giới. Sau đó cả hai cùng nhau tìm cách đi tẩu tán tài sản đã chiếm đoạt. Nhưng vậy trách nhiệm hình sự của hai bị cáo là ngang nhau. Tuy nhiên Bị cáo Cang Bảo H là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị Tòa án xét xử về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà vẫn tiếp tục hành vi phạm tội khi có cơ hội nên bị cáo H phải chịu hình phạt nặng hơn hình phạt của bị cáo C.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị hại anh Hoàng Văn T1 hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên các bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm k khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo C được áp dụng thêm tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: anh Hoàng Văn T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu về dân sự.
Về biện pháp tư pháp:
- Đối với xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha, chưa đăng ký biển số, có số máy: JA70E-0144048, số khung: RLHJA3936PY708264 đã qua sử dụng, có nguồn gốc hợp pháp, Cơ quan CSĐT ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là anh Hoàng Văn T1.
- Đối với xe môtô biển số 65B7- 3071 kết quả xác minh trên hệ thống dữ liệu đăng ký xe (qua phiếu trả lời xác minh, kèm theo) kết quả không xác định được chủ sở hữu phương tiện, Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm k khoản 2 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Cang Bảo H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Cang Bảo H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2024.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm k khoản 2 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Vũ Quang C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Vũ Quang C 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2024.
2. Về án phí tòa án: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Cang Bảo H và Vũ Quang C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Hoàng Văn T1, người đại diện hợp pháp của anh T1: Bà Nguyễn Thị Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Bích Hồng
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Ngọc H2 – Nguyễn Đình Quang Bùi Thị Bích H3
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Bích Hồng
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Bích Hồng
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Bích Hồng
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Xuân D – T
Bùi Thị Bích H3