vanban.org

Bản án 104/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Văn Ph, Tạ Hoài L, Huỳnh Tuấn Th, Lê Thanh S, Nguyễn Văn L và Lâm Minh V phạm tội “ Cố ý gây thuơng tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Về hình phạt: 1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 55 của Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn Phú Cùng đồng phạm về tội cố ý thương tích và gây rối trật tự công cộng - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức k…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Văn Ph, Tạ Hoài L, Huỳnh Tuấn Th, Lê Thanh S, Nguyễn Văn L và Lâm Minh V phạm tội “ Cố ý gây thuơng tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Tư pháp người; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2025/HS-ST
Ngày 04-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sô.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Hồng Tươi;

2. Bà Huỳnh Anh Thư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Yên, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Phong, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2025/QĐXXST-HS ngày 31/03/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2025/QĐST-HS ngày 14/5/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2025/QĐST-HS ngày 14/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2025/QĐST-HS ngày 30/5/2025, đối với các bị cáo:

1. Huỳnh Văn Ph, sinh năm 1997, tại tỉnh Sóc Trăng; thường trú: Ấp Chợ, xã Trung Bình, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Không biết chữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Văn Dục, sinh năm 1965 và bà Sơn Thị Phol, sinh năm 1965.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 31/7/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, đến ngày 18/11/2019, được miễn chấp hành phần thời gian áp dụng còn lại.

Ngày 03/7/2023, bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bị cáo bỏ trốn, đến ngày 08/02/2024 bị bắt, tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố Tân Uyên cho đến nay.

2. Tạ Hoài L, sinh năm 2002, tại tỉnh Cà Mau; thường trú: Khóm 8, thị trấn Rạch Gốc, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con Tạ Văn M, sinh năm 1977 và bà Lại Thị Ánh C, sinh năm 1981.

Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 07/4/2024 bị bắt, tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện Ph Giáo cho đến nay.

3. Huỳnh Tuấn Th, sinh năm 1997, tại tỉnh Sóc Trăng; thường trú: Ấp Chợ, xã Trung Bình, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Văn Th, sinh năm 1972 và bà Đinh Thị Th, sinh năm 1972; Bị cáo sống như vợ chồng (không có đăng ký kết hôn) với bà Võ Phùng Quang Thanh So, sinh năm 1999 và có 01 người con sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 23/4/2024 đầu thú, bị tạm giữ, sau chuyển qua tạm giam tại Phân trại tẠm giam khu vực thành phố Tân Uyên cho đến nay.

4. Lê Thanh S, sinh năm 2002, tại tỉnh An Giang; thường trú: Ấp Bình Thành, xã Bình Thành, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn T, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị Tuyết Ng, sinh năm 1977; Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 26/12/2023, bị Công an phường Tân Hiệp, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền 1.500.000 đồng.

Nhân thân: Ngày 17/02/2024, có hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù, tại Bản án hình sự số 132/2024/HS-ST ngày 08/7/2024.

Ngày 18/5/2025 chấp hành xong hình phạt của Bản án hình sự số 132/2024/HS-ST ngày 08/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một và bị bắt tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố Tân Uyên từ ngày 18/5/2025 cho đến nay.

5. Nguyễn Văn L, sinh năm 1991, tại Sóc Trăng; thường trú: Ấp Bưng Lức, xã Trung Bình, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Không biết chữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1971 và bà Thạch Thị Th, sinh năm 1972.

Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 14/11/2024 bị bắt tạm giữ, sau chuyển tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố Tân Uyên cho đến nay.

6. Lâm Minh V, sinh năm 2005, tại Sóc Trăng; thường trú: Ấp Chợ, xã Trung Bình, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Không; con ông Lâm Kh, sinh năm 1967 và bà Sơn Thị Kh, sinh năm 1969.

Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 10/10/2024 bị khởi tố, bị bắt và tạm giam tại Phân khu tạm giam khu vực thành phố Tân Uyên cho đến nay.

Bị hại: Nguyễn Trung K, sinh năm 2005, thường trú: Ấp Hà Bao 1, xã Đa Phước, huyện An Ph, tỉnh An Giang; có đơn xin vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Đinh Thị Th, sinh năm 1972, ngụ tại: Ấp Chợ, xã Trung Bình, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng; vắng mặt không lý do.

2. Bà Dương Thị Mỹ L, sinh năm 2006, ngụ tại: Ấp Chợ, xã Trung Bình, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các đối tượng Huỳnh Văn Ph, Tạ Hoài L, Huỳnh Tuấn Th, Lê Thanh S, Nguyễn Văn L, Lâm Minh V và Nguyễn Trung K đều là công nhân Công ty TNHH đồ gỗ Hu Chen đóng trên địa bàn phường Tân Hiệp, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Quá trình làm việc tại đây, giữa Lê Thanh S, Tạ Hoài L và Nguyễn Trung K có xảy ra mâu thuẫn nhưng đã được giải quyết.

Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 11/10/2022, V điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở Ph đi đến Công ty Hu Chen để làm việc. Khi đi đến đoạn đường thuộc địa bàn phường Tân Hiệp, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thì bị 02 thanh niên (không rõ nhân thân) đi xe mô tô hiệu Honda Sonic dùng tay đánh làm Ph và V té ngã xuống đường. Sau đó, Ph kêu V chở Ph về lại nhà trọ Lê Văn Huệ thuộc khu phố Ông Đông, phường Tân Hiệp, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (nơi Ph đang thuê trọ để ở). Ph gọi điện thoại kêu Huỳnh Tuấn Th, Lê Thanh S, Tạ Hoài L và Nguyễn Văn L đến phòng trọ để uống rượu và kể lại sự việc bị 02 thanh niên đánh, Ph nghi ngờ Nguyễn Trung K là người kêu hai thanh niến đó đánh Ph nên Ph kêu L, Th, S, L và V đi đánh K, tất cả đồng ý.

Đến khoảng 16 giờ 30 Pht cùng ngày, Ph vào bếp lấy 01 con dao bằng kim loại dài khoảng 60cm, L và Thanh mỗi người cầm 01 con dao bằng kim loại dài khoảng 40cm. Lên điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở Ph và Th; L điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở Sang; Viên điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chạy theo. Tất cả đi đến trước cổng Công ty Hu Chen đợi Kiên tan ca sẽ cùng đánh K. Đến nơi, Ph đứng gần chốt bảo vệ, L đứng gần trụ cổng, S, L và V đứng cách cổng khoảng 03 mét.

Khoảng 17 giờ cùng ngày, khi thấy K vừa đi ra đến cổng thì Ph lao vào dùng dao chém 03 cái trúng vào vai phải và tay phải của K làm cho K ngã xuống đất, L xông vào chém 02 cái vào vùng ngực của K, Th chém 03 cái vào cẳng chân và bàn chân của K, S chạy đến dùng tay, chân đánh K nhiều cái. K bỏ chạy vào trong công ty và được Phạm Kim Y (bạn K) cùng mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Châu Thành Tân Uyên.

Sau khi gây thương tích cho K thì V chở Ph, L chở Th, còn L chở S cùng nhau bỏ trốn khỏi hiện trường.

Ngày 13/10/2022, Nguyễn Trung K có đơn yêu cầu giám định thương tích và yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can.

Các phương tiện là xe mô tô và hung khí các bị cáo sử dụng, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Tại Bản kết luận giám định pháp y số 777/2022/GĐPY ngày 10/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương, kết luận Nguyễn Trung K bị các vết thương:

- Vùng ngực phải 5 x 0,5cm, đùi phải 5,5 x 0,5cm, vết thương 1/3 giữa mặt ngoài cẳng chân trái 2,3 x 0,6cm, gan bàn chân phải 5,5 x 0,1cm, sẹo lành.

- Vết thương vai phải 5 x 0,5cm, gãy mẻ xương gai vai phải đã can.

- Vết thương 1/3 trên mặt sau trong cẳng tay phải 10,6 x 0,2cm, đứt thần kinh trụ, đứt gân gấp cổ tay, đã phẫu thuật nối gân, thần kinh trụ, sẹo lành. Di chứng: teo cơ gian cốt bàn tay phải.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 25%.

Tại Bản kết luận giám định số 84/KLGĐĐT-TTPY ngày 10/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau, kết luận: Lâm Minh V (tên gọi khác Danh Trường An) có độ tuổi là 17 năm 03 tháng đến 17 năm 09 tháng, tính đến thời điểm xảy ra vụ việc ngày 11/10/2022.

Về phần trách nhiệm dân sự: Nguyễn Trung K yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường số tiền 60.000.000 đồng. Bà Đinh Thị Thủy là mẹ ruột của bị cáo Huỳnh Tuấn Th đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng; bà Dương Thị Mỹ L là vợ của bị cáo Lâm Minh V đã bồi thường số tiền 5.000.000 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số 74/CT-VKS-DA ngày 19 tháng 2 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Huỳnh Văn Ph, Tạ Hoài L, Huỳnh Tuấn Th, Lê Thanh S, Nguyễn Văn L và Lâm Minh V về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 55 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Ph mức án từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt chung là 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.

- Căn cứ đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 55 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tạ Hoài L mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt chung là 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù.

- Căn cứ đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 55 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Tuấn Th mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích; 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt chung là 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù.

- Căn cứ đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 55 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thanh S, 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (năm) tù về tội “Cố ý gây thương tích”; 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (năm) tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt chung là 05 (năm) đến 06 (sáu) năm tù.

- Căn cứ đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L, 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (năm) tù về tội “Cố ý gây thương tích”; 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (năm) tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt chung là 05 (năm) đến 06 (sáu) năm tù.

- Căn cứ đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 90; 91; Điêu 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lâm Minh V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt chung là 03 (ba) đến 04 (bốn) năm tù.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn yêu cầu xem xét xử lý yêu cầu bồi thường dân sự và án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến tranh luận, không đối đáp lại với lời luận tội và thống nhất với quan điểm luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát. Quá trình tố tụng các bị cáo cũng không có ý kiến hay khiếu nại thắc mắc đối với quyết định và hành vi tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên và cơ quan tiến hành tố tụng.

Lời nói sau cùng các bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc không triển khai kịp thời các biện pháp điều tra dẫn đến không còn manh mối để tịch thu các vật chứng là 03 xe mô tô; 03 con dao và 01 cây tu vít mà các bị cáo đã dùng làm phương tiện phạm tội thuộc về trách nhiệm của điều tra viên và của Cơ quan điều tra nên cần phải rút kinh nghiệm.

Về sự vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bị hại Nguyễn Trung K có đơn xin vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị Th được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt những người này theo quy định.

Xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điềuu tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử xem xét và thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xác định có đủ căn cứ kết luận vào khoảng 17 giờ ngày 11/10/2022 tại trước cổng Công ty TNHH đồ gỗ Hu Chen thuộc khu phố Tân Bình, phường Tân Hiệp, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương các bị cáo Huỳnh Văn Ph, Tạ Hoài L, Huỳnh Tuấn Th, Lê Thanh S, Nguyễn Văn L và Lâm Minh V đã vô cớ dùng dao và dùng tay, chân đánh, chém gây thương tích cho Nguyễn Trung K với tỷ lệ thương tích là 25%. Hành vi các bị cáo Huỳnh Văn Ph, Tạ Hoài L, Huỳnh Tuấn Th, Lê Thanh S, Nguyễn Văn L và Lâm L Viên đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại đ khoản 2 Điều 134 với 02 tình tiết là “có tính chất côn đồ và dùng hung khí nguy hiểm”.

Ngoài ra hành vi phạm tội các bị cáo thực hiện tại nơi công cộng, làm mất ổn định, tổ chức, kỷ luật nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng tại địa phương nên còn phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là dùng hung khí nguy hiểm.

Xét tính chất, mức độ của hành vi:

Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết việc dùng dao là hung khí nguy hiểm, dùng tay chân đánh người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã xâm phạm sức khỏe cá nhân người khác và xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xét xử các bị cáo thật nghiêm khắc, để răn đe và phòng ngừa chung đặc biệt đối với các đối tượng khác muốn giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực, lưu manh, giang hồ.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Huỳnh Văn Ph có thêm tình tiết tăng nặng là “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội (xúi giục Lâm Minh V phạm tội khi Viên chưa đủ 18 tuổi)” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lâm Minh V và bị cáo Huỳnh Tuấn Th được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “Bồi thường một phần thiệt hại” và bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Huỳnh Tuấn Th được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội đầu thú theo khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tiền án: Các bị cáo không có tiền án.

Về tiền sự: Bị cáo Lê Thanh S có 01 tiền sự năm 2023, bị Công an phường Tân Hiệp, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền 1.500.000 đồng.

Về nhân thân: Bị cáo Ph và bị cáo S có nhân thân xấu:

Năm 2018, Ph bị Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng.

Năm 2024, S sau khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này, bị cáo bỏ trốn rồi thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù tại Bản án hình sự số 132/2024/HS-ST ngày 08/7/2024.

Về tính chất đồng phạm. Các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn; không có sự phân công vai trò cụ thể, không có sự cấu kết chặt chẽ nên không xem là phạm tội có tổ chức. Có bị cáo tham gia với vai trò là người rủ rê, cầm đầu và trực tiếp thực hiện tội phạm, có bị cáo người giúp sức nên vai trò phạm tội của các bị cáo khác nhau và Hội đồng xét xử sẽ phân hóa hành vi cụ thể của từng bị cáo để xem xét khi quyết định hình phạt, cụ thể:

Bị cáo Huỳnh Văn Ph là người cầm đầu, rủ rê, tích cực thực hiện tội phạm nên có vai trò cao nhất, vài trò thấp hơn lần lượt là bị cáo Huỳnh Tuấn Th chém bị hại 03 dao, bị cáo Tạ Hoài L chém bị hại 02 dao, bị cáo S dùng tay chân đánh bị hại, bị cáo L và V là người đứng cảnh giới và chở các bị cáo bỏ trốn nên vai trò thấp nhất.

Về hình phạt:

Xét các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, cùng lúc thực hiện 02 tội phạm, sau khi phạm tội các bị cáo cố tình bỏ trốn gây nhiều khó khăn cho cơ quan điều tra và các bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn đủ dài, để cách lý các bị cáo ra khỏi xã hội cho các bị cáo có thời gian tự học tập cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và cho xã hội.

Bị cáo Lâm Minh V khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên sẽ được Hội đồng xét xử sẽ can cứ vào quy định tại Mục số 1; Mục số 4, Chương VI, Phần thứ ba Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, quy định hình phạt và thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên khi phạm tội của để quyết định hình phạt.

Về bồi thường dân sự: Tại phiên tòa các bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại số tiền theo yêu cầu của bị hại là 60.000.000 đồng, đại diện gia đình của bị cáo Thanh và Viên đã bồi thường 15.000.000 đồng còn lại 45.000.000 đồng các bị cáo đều đồng ý tiếp tục liên đới bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt đối với các bị cáo Huỳnh Văn Ph; Tạ Hoài L; Huỳnh Tuấn Th và Lê Thanh S là có căn cứ chấp nhận, các bị cáo còn lại là quá nghiêm khắc, chưa tương xứng vai trò phạm tội. Ngoài ra, bị cáo Lâm Minh V khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, đại diện Viện kiểm sát đề nghị căn cứ Điều 90 và 101 Bộ Luật Hình sự để quyết định hình phạt là chưa đảm bảo theo quy định tại các Mục I; Mục số 4, Chương VI, Phân thứ ba hình phạt và thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024.

Án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Văn Ph, Tạ Hoài L, Huỳnh Tuấn Th, Lê Thanh S, Nguyễn Văn L và Lâm Minh V phạm tội “ Cố ý gây thuơng tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.

1. Về hình phạt:

1.1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 55 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Ph 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả (02) hai tội buộc bị cáo Huỳnh Văn Ph phải chấp hành là 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/02/2024.

1.2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 55 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Tạ Hoài L 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; 02 (hai) năm (03) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả (02) hai tội buộc bị cáo Tạ Hoài L phải chấp hành là 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/4/2024.

1.3. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 55 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Tuấn Th 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả (02) hai tội, buộc bị cáo Huỳnh Tuấn Th phải chấp hành là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2024.

1.4. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 55 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Thanh S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả (02) hai tội, buộc bị cáo Lê Thanh S phải chấp hành là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/5/2025.

1.5. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 55 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả (02) hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chấp hành là 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2024.

1.6. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 55 của Bộ luật hình sự; các Mục I; Mục số 4, Chương VI, Phần thứ ba của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 quy định hình phạt và thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên.

Xử phạt bị cáo Lâm Minh V 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; 01 (một) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả (02) hai tội, buộc bị cáo Lâm Minh V phải chấp hành 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2024.

2. Về bồi thường dân sự:

Áp dụng Điều 590 của Bộ luật dân sự; buộc các bị cáo Huỳnh Văn Ph, Tạ Hoài L, Huỳnh Tuấn Th; Lê Thanh S, Nguyễn Văn L, Lâm Minh V liên đới tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Trung K số tiền 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm:

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Huỳnh Văn Ph, Tạ Hoài L, Huỳnh Tuấn Th; Lê Thanh S, Nguyễn Văn L, Lâm Minh V mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

Buộc các bị cáo Huỳnh Văn Ph, Tạ Hoài L, Huỳnh Tuấn Th; Lê Thanh S, Nguyễn Văn L, Lâm Minh V mỗi người phải liên đới nộp số tiền 2.250.000 đồng (hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ