vanban.org

Bản án 104/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 28/04/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/04/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân Q. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2025/HSST ngày 23/01/2025 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Xuân Q. [2]. Điều luật áp dụng và mức hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyenx Xuân Q - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2025/HS-PT
Ngày 28 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung;

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Bằng;

Ông Võ Thanh Hà.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Cao Huế - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trần Quyết Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2025/TLPT-HS ngày 05/3/2025 đối với bị cáo Nguyễn Xuân Q về tội “Vận chuyển hàng cấm”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Xuân Q; Sinh ngày 28/4/1991, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: D Hồ X, tổ dân phố A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Nguyễn Thiện H và bà Đoàn Thị M; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Như Q1; Bị cáo có 02 con đều sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ - Có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án này còn có bị cáo Nguyễn Tấn Y, Phan Thị Y1 nhưng không kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 12 năm 2023 Nguyễn Tấn Y được một người phụ nữ (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) thuê vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu với tiền công 7.000.000 đồng. Sau khi được thuê, T trao đổi việc vận chuyển thuốc lá điếu với Phan Thị Y1 thì Thị Y1 báo lại với người phụ nữ tên “M1” để “My” trực tiếp làm việc với chủ hàng của T. Sau khi thống nhất số lượng thuốc lá điếu nhãn hiệu JET vận chuyển, T thuê lại Nguyễn Tấn Q2 vận chuyển thuốc lá nhập lậu với tiền công 5.000.000 đồng/01 chuyến. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 30/12/2023 T rủ Q2 đi tỉnh Long An chở thuốc lá điếu nhập lậu. Tấn Yên lái xe ô tô nhãn hiệu KIA SONET, biển kiểm soát 47A-565.09 chở Q2 và Nguyễn Thị Trà M1 đi cùng. Đến khoảng 16 giờ 20 phút ngày 31/12/2023 cả 03 người cùng vào nhà nghỉ T, địa chỉ tại ấp B, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An để thuê phòng nghỉ. Tại đây, Tấn Y và M1 ở chung tại phòng số 4, còn Q2 ở một mình tại phòng số 6. Khoảng 03 giờ ngày 01/01/2024 Tấn Y gọi Quy dậy chở thuốc lá nhập lậu về tỉnh Đắk Lắk và nói Q2 lấy 01 xe mô tô (đang để sẵn trong nhà nghỉ, chưa xác định được biển kiểm soát, chủ sở hữu) chạy xe đến vị trí cách nhà nghỉ khoảng 400 m để nhận xe thuốc lá. Khi đến nơi, Q2 thấy có 01 xe ô tô tải (hiện chưa xác định được biển kiểm soát), Q2 để xe mô tô lại, một mình Q2 điều khiển xe ô tô tải chở thuốc lá đi theo hướng Quốc lộ A về tỉnh Đắk Nông, đi qua huyện L, tỉnh Đắk Lắk về ngã 3 thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk sẽ có người đến lấy xe để đi giao thuốc lá. Khoảng 01 giờ đồng hồ sau, Tấn Y gọi Q2 quay lại lấy xe ô tô rồi điều khiển quay lại tỉnh Long An. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 02/01/2024, Q2 đến vị trí bãi đất trống đã lấy xe ô tô tải ngày hôm trước, Q2 bỏ xe ô tô tải lại đây rồi quay về nhà nghỉ T để ngủ. Khoảng 04 giờ ngày 04/01/2024 Tấn Y gọi Q2 dậy và nói điều khiển xe ô tô tải chở thuốc lá nhập lậu đến tỉnh Đắk Lắk. Sau đó, cả 03 người cùng đi ra khỏi nhà nghỉ T. Q2 lấy xe mô tô đi đến bãi đất trống đã để xe ô tô tải lần trước, thì thấy xe ô tô tải biển kiểm soát 63H-026.81, màu sơn trắng, nhãn hiệu DOTHANH, có chìa khoá đang để sẵn trên xe. Q2 để xe mô tô lại rồi một mình điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 63H-026.81 đi đến tỉnh Đắk Lắk. Còn Tấn Y điều khiển xe ô tô biển số 47A-565.09 chở M1 đi cùng. Trên đường đi, T thường xuyên liên lạc với Q2 để trao đổi tình hình, nếu có lực lượng Công an thì sẽ báo cho Q2 đi cẩn thận. Rồi Tấn Y hẹn Q2 ăn sáng tại tỉnh Bình Phước, hẹn uống nước tại thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi xe ô tô tải biển kiểm soát 63H-026.81 do Q2 điều khiển và xe ô tô biển kiểm soát 47A-565.09 do Tấn Y điều khiển đến địa phận phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì bị Tổ công tác của Công an tỉnh Đ yêu cầu dừng xe kiểm tra và phát hiện trong thùng xe ô tô biển kiểm soát 63H-026.81 có chứa 1.500 cây (15.000 bao) thuốc là điếu trên bề mặt có in chữ “JET FILTERKINGS CIGARETTES" và 60 cây (600 bao) thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO được cất giấu trong 09 thùng loa điện tử màu đen và các thùng giấy carton, nên đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Q2 và triệu tập Tấn Y cùng những người có liên quan về làm việc. Tại Kết luận giám định số 03/KLGĐ ngày 11/01/2024 của Sở Công thương tỉnh Đ kết luận 15.000 bao (mỗi bao 20 điếu) thuốc lá điếu, hiệu JET, bên ngoài bao thuốc là có nội dung “JET FILTERKINGS CIGARETTES”, không có tem, không có nhãn phụ ghi Tiếng Việt trên bao bì và 600 bao (mỗi bao 20 điếu) thuốc lá điếu, nhãn hiệu HERO, không có tem, không có nhãn phụ ghi Tiếng Việt trên bao bì, không sản xuất tại Việt Nam (là hàng nhập lậu). Tại Kết luận giám định số 10/KLGĐ ngày 05/11/2024 của Sở Công thương tỉnh Đ kết luận: Tổng số có 10 cây (loại 10 bao / 01 cây, 20 điếu / 01 bao) thuốc lá, trên bao bì có in chữ JET và 42 bao (loại 20 điếu / 01 bao) thuốc lá, trên bao bì có in chữ JET, số thuốc lá điếu các loại nêu trên không có tem, không có nhãn mác ghi Tiếng Việt, không sản xuất tại Việt Nam (hàng nhập lậu). Đối với 01 bộ dụng cụ được làm bằng gỗ kim loại, 01 bịch ni lông màu đen đựng sợi lá vụn, 01 bịch ni lông màu đen đựng Đầu bông lọc, giấy in lô gô và chữ JET thì Sở Công thương tỉnh Đ không có cơ sở xác định để giám định về chủng loại, nguồn gốc xuất sứ nên từ chối kết luận giám định đối với các đồ vật trên. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2025/HSST ngày 23/01/2025 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Q phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Q 07 năm tù. Ngoài ra, bản án còn quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Tấn Y, Phan Thị Y1, xử lý vật chứng, án phí.

Ngày 24/01/2025 bị cáo Nguyễn Xuân Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Xuân Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm đã nhận định, cũng như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Xuân Q về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt 07 năm tù đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc so với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm hình phạt cho bị cáo. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 06 năm 06 tháng tù. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 04/01/2024 Nguyễn Tấn Y, Phan Thị Y1, Nguyễn Xuân Q vận chuyển 15.600 bao thuốc lá nhãn hiệu JET và HERO, không có tem, không có nhãn phụ ghi Tiếng Việt trên bao bì, không sản xuất tại Việt Nam, là hàng nhập lậu từ tỉnh Long An về đến phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì bị phát hiện, bắt quả tang. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Xuân Q về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân Q, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến hoạt động quản lý Nhà nước về thị trường, về các mặt hàng cấm lưu hành nên cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo việc cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Sau khi kháng cáo, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Tuy nhiên, mức hình phạt 07 năm tù mà bản án sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Bởi lẽ, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã có thời gian chấp hành nghĩa vụ quân sự; là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; gia cảnh khó khăn. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật Nhà nước.

. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

. Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân Q. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2025/HSST ngày 23/01/2025 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Xuân Q.

[2]. Điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Q 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Vận chuyển hàng cấm”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ, tạm giam ngày 04/01/2024.

[3]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ