vanban.org

Bản án 104/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thị Kim H, chị H được ly hôn với anh Trần Văn K.

Về con chung: Giao Trần Minh T, sinh ngày 29/9/2016 cho anh Trần Văn K nuôi dưỡng. Chị Đặng Thị Kim H không phải cấp dưỡng nuôi con, chị H có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở chị H thực hiện quyền này. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình chị Đặng Thị Kim H phải chịu 30… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Đặng Thị Kim H yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn K."
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thị Kim H, chị H được ly hôn với anh Trần Văn K.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2025/HNGĐ-ST
Ngày 18-8-2025
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Minh Luân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hoàng Giang

Ông Trần Văn Giang

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Kil - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2025/TLST-HNGĐ ngày 01/4/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Kim H, sinh năm: 1999 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa (nay là Tổ dân

phố L, phường C, tỉnh Khánh Hòa).

- Bị đơn: Anh Trần Văn K, sinh năm: 1991 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm G, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau (nay là Khóm G, xã C, tỉnh Cà Mau).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 03 năm 2025 nguyên đơn chị Đặng Thị Kim H trình bày:

Chị Đặng Thị Kim H và anh Trần Văn K thành hôn với nhau năm 2018 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau (nay là Khóm A, xã C, tỉnh Cà Mau). Trong thời gian chung sống chị Đặng Thị Kim H và anh Trần Văn K phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra cự cải, gia đình 02 bên hàn gắn nhưng không thành, chị H và anh K không thể đoàn tụ nên yêu cầu được ly hôn. Chị Đặng Thị Kim H và anh Trần Văn K có 01 người con chung tên là Trần Minh T, sinh ngày 29/9/2016 anh K đang trực tiếp nuôi dưỡng, chị H yêu cầu tiếp tục giao con chung cho anh K nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung, tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với bị đơn anh Trần Văn K trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với anh Trần Văn K nhưng anh K vẫn vắng mặt và không gởi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự: Vụ án từ khi thụ lý đến xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Về nội dung đề nghị: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thị Kim H. Con chung giao Trần Minh T, sinh ngày 29/9/2016 cho anh K nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Xét về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần Văn K có nơi cư trú tại xã C, tỉnh Cà Mau, nguyên đơn chị Đặng Thị Kim H khởi kiện xin ly hôn với anh Trần Văn K nên Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai đối với anh Trần Văn K nhưng anh K vẫn vắng mặt không rõ lý do, chị H xin vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh K là phù hợp với quy định.

Xét về hôn nhân: Chị Đặng Thị Kim H và anh Trần Văn K thành hôn với nhau năm 2018 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau (nay là Khóm G, xã C, tỉnh Cà Mau). Được thể hiện tại Trích lục kết hôn số 32/TLKH-BS ngày 27/3/2025 do Ủy ban nhân dân thị trấn C (nay là xã C), tỉnh Cà Mau cấp, đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Đặng Thị Kim H và anh Trần Văn K được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Theo nguyên đơn xác định trong thời gian chung sống chị Đặng Thị Kim H và anh Trần Văn K phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra cự cải, gia đình 02 bên hàn gắn nhưng không thành, chị H và anh K không thể đoàn tụ nên yêu cầu được ly hôn với anh K. Đối với bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Đặng Thị Kim H và anh Trần Văn K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Kim H là có căn cứ nên được chấp nhận.

Xét về con chung: Chị Đặng Thị Kim H và anh Trần Văn K có 01 người con chung tên là Trần Minh T, sinh ngày 29/9/2016 anh K đang trực tiếp nuôi dưỡng, chị H yêu cầu tiếp tục giao con chung cho anh K nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy con chung tên Trần Minh T, sinh ngày 29/9/2016 anh K đang trực tiếp nuôi dưỡng, chị H yêu cầu tiếp tục giao con chung cho anh K nuôi dưỡng, anh K không có ý kiến gì về con chung. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao Trần Minh T, sinh ngày 29/9/2016 cho anh K nuôi dưỡng là phù hợp.

Xét về cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Văn K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Xét về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét.

Xét về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn chị Đặng Thị Kim H phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thị Kim H, chị H được ly hôn với anh Trần Văn K.

Về con chung: Giao Trần Minh T, sinh ngày 29/9/2016 cho anh Trần Văn K nuôi dưỡng. Chị Đặng Thị Kim H không phải cấp dưỡng nuôi con, chị H có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở chị H thực hiện quyền này.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình chị Đặng Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng, chị H có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003975 ngày 27/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (nay là Thi hành án dân sự tỉnh C) được chuyển thu.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,7b, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ