vanban.org

Bản án 104/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vương Thị Z và anh Nguyễn Ngọc Y.

Về án phí: Chị Vương Thị Z phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0009805 ngày 01 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng, chị Vương Thị Z … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hải Khanh"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vương Thị Z và anh Nguyễn Ngọc Y.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 104/2024/HNGĐ-ST
Ngày 10-6-2024
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Ngọc Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lương

Ông Hoàng Đức Cảnh

- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên tham gia phiên toà: Ông Bùi Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 50/2024/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2024/QĐST- HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vương Thị Z, sinh năm 1985; nơi đăng ký thường trú: Số 4x, đường x/8, phường M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: Số xx, đường T, phường H, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc Y, sinh năm 1968; nơi cư trú: Số xx, đường B, thị trấn N, huyện M, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Vương Thị Z (nguyên đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Chị Vương Thị Z và anh Nguyễn Ngọc Y xây dựng hạnh phúc với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào năm 2023 tại UBND xã thị trấn N, huyện M, thành phố Hải Phòng nhưng không tổ chức lễ cưới theo phong tục và cũng không chung sống với nhau. Sau khi đăng ký kết hôn, chị Z nhận thấy tính tình vợ chồng không hoà hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng thờ ơ lạnh nhạt và không quan tâm đến nhau. Nay chị Z nhận thấy tình cảm vợ chồng không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Z yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Ngọc Y.

Về con chung: Chị Vương Thị Z khai chị và anh Nguyễn Ngọc Y không có con chung nên chị Z không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Vương Thị Z khai chị và anh Nguyễn Ngọc Y không có tài sản chung nên chị Z không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Ngọc Y đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật song đến ngày mở phiên tòa, anh Y vẫn không có mặt để trình bày ý kiến về việc chị Z xin ly hôn.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Z và anh Y. Về nội dung vụ án: Tài liệu điều tra thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Vương Thị Z và anh Nguyễn Ngọc Y đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Z và anh Y được ly hôn. Về con chung: Chị Z và anh Y không con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết. Về tài sản chung: Chị Z khai chị và anh Y không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí Toà án thì chị Vương Thị Z phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình. Bị đơn là anh Nguyễn Ngọc Y có nơi cư trú tại thị trấn Núi Đèo, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Vương Thị Z đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Ngọc Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Z và anh Y.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Vương Thị Z và anh Nguyễn Ngọc Y được xác lập vào năm 2023 và có đăng ký kết hôn là hợp pháp. Tài liệu điều tra xác minh thể hiện sau khi đăng ký kết hôn được một thời gian ngắn thì chị Z và anh Y phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng thờ ơ, lạnh nhạt và không còn tình cảm thương yêu nhau. Chị Z xin ly hôn anh Y, Tòa án đã triệu tập anh Y nhiều lần để trình bày ý kiến về việc chị Z xin ly hôn nhưng anh Y vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Z và anh Y đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn xử cho chị Z và anh Y được ly hôn.

Về con chung: Chị Vương Thị Z và anh Nguyễn Ngọc Y không có con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Vương Thị Z khai chị và anh Nguyễn Ngọc Y không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị Vương Thị Z phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Chị Vương Thị Z và anh Nguyễn Ngọc Y được quyền kháng cáo trong thời hạn do pháp luật quy định.

V× c¸c lÏ trªn,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí Tòa án; xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vương Thị Z và anh Nguyễn Ngọc Y.

2. Về án phí: Chị Vương Thị Z phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0009805 ngày 01 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng, chị Vương Thị Z đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Chị Vương Thị Z, anh Nguyễn Ngọc Y vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7; Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ