vanban.org

Bản án 104/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Lê Mỹ D về việc yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Hữu T.

Chị Lâm Lê Mỹ D được ly hôn anh Nguyễn Hữu T. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 13-6-2016 cho chị Lâm Lê Mỹ D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lâm Lê Mỹ D - Nguyễn Hữu T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Lê Mỹ D về việc yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Hữu T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH
——————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2024/HNGĐ-ST.
Ngày 28-8-2024.
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Mỹ Liên;

Ông Trần Văn Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 51/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lâm Lê Mỹ D, sinh năm 1993 – Xin vắng mặt;

Địa chỉ: Khu phố L T, phường T B, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1992- Vắng mặt.

Địa chỉ: Khu phố A Q, phường A H, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Lâm Lê Mỹ D trình bày:

Chị và anh T chung sống với nhau từ năm 2015, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A H, huyện Trảng Bàng (nay là phường A H, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh. Sau khi cưới vợ chồng chung sống với gia đình anh T tại ấp A Q, xã A H, huyện Trảng Bàng (nay là khu phố A Q, phường A H, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh. Từ khi chung sống vợ chồng đã thường xuyên gây gỗ nhau, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không phù hợp, anh T không lo cho kinh tế gia đình và vợ con. Mỗi lần cãi nhau anh T thường đánh và đuổi chị D đi nên chị D đã nhiều lần bỏ về nhà cha mẹ ruột, sau đó vợ chồng tự hòa giải chung sống lại với nhau. Nhưng khi về chung sống lại anh T vẫn không thay đổi. Từ tháng 11-2023, chị D bỏ về nhà cha mẹ ruột chị sống và vợ chồng ly thân đến nay. Từ khi ly thân, chị và anh T không ai đặt vấn đề đoàn tụ.

Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 một con chung tên Nguyễn Bảo N, sinh ngày 13-6-2016, hiện đang sống chung với chị D. Khi ly hôn, chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập anh Nguyễn Hữu T đến Toà lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tham gia phiên toà nhưng anh T không đến nên không thể hiện được lời trình bày và yêu cầu của anh T.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Riêng bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về quyền và nghĩa vụ của bị đơn.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét quyết định:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lâm Lê Mỹ D yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Hữu T.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 13-6-2016 cho chị Lâm Lê Mỹ D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lâm Lê Mỹ D vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Hữu T vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A H, huyện Trảng Bàng (nay là phường A H, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh nên được thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ tháng 11-2023 đến nay mà không ai đặt vấn đề đoàn tụ. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị D trình bày là do tính tình vợ chồng không phù hợp, anh T không lo cho kinh tế gia đình, vợ con, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mỗi lần vợ chồng cãi nhau anh T thường đánh và đuổi chị đi. Chị D nhiều lần bỏ về nhà cha mẹ ruột, sau đó vợ chồng tự hòa giải và chị D quay về chung sống lại nhưng vẫn không hạnh phúc. Tòa án đã nhiều lần mời anh T đến Tòa trình bày ý kiến, tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh T đều không đến, thể hiện anh T không có thiện chí hàn gắn với chị D. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị D và anh T trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị D được ly hôn anh T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị D và anh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 13-6-2016. Cháu N hiện đang sống với chị D từ khi chị D và anh T ly thân, nay chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã hỏi ý kiến của cháu N, cháu có nguyện vọng được theo sống với chị D. Hội đồng xét xử xét thấy cháu N là nữ, cần được sự chăm sóc của người mẹ, trong thời gian được chị D nuôi dưỡng, cháu phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Để tránh làm xáo trộn cuộc sống của cháu N, Hội đồng xét xử giao cháu N cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Ghi nhận chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Như phân tích trên, có căn cứ chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án.

Án phí: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Lê Mỹ D về việc yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Hữu T.

Chị Lâm Lê Mỹ D được ly hôn anh Nguyễn Hữu T.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 13-6-2016 cho chị Lâm Lê Mỹ D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ghi nhận chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Án phí: Chị Lâm Lê Mỹ D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014753 ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; chị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Báo cho chị D, anh T biết có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ