vanban.org

Bản án 104/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Sằm Thị L được ly hôn với anh Hoàng Văn K.

2- Về con chung: Căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; giao cả hai cháu là Hoàng Hữu S sinh ngày 03-01-2007 và Hoàng Thị Phương Th sinh ngày 11-7-2009 cho chị Sằm Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi; anh Hoàng Văn K không phải cấp dưỡn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Sằm Thị L, bị đơn anh Hoàng Văn K"
  • Tòa quyết gì? 1- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Sằm Thị L được ly hôn với anh Hoàng Văn K.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH Y

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2024/HNGĐ-ST
Ngày 12-9-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L- TỈNH Y

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Duy Đô

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Trương Xuân Vũ;

2- Ông Hoàng Văn Khiếu.

Thư ký phiên toà: Bà Lương Thuỳ Linh, Thư ký Toà án nhân dân huyện L-tỉnh Y.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y tham gia phiên toà: Ông Lý Văn Tầm- Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 172/2024/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXX-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 74/2024/QĐST -HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Sằm Thị L 44 tuổi

Địa chỉ: Thôn Kh- xã AP- huyện L- tỉnh Y, có mặt.

Bị đơn: Anh Hoàng Văn K 41 tuổi

Địa chỉ: Thôn Kh- xã AP- huyện L- tỉnh Y, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 09-7-2024 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Sằm Thị L trình bày: Chị và anh Hoàng Văn K kết hôn tháng 3 năm 2007 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã AP- huyện L- tỉnh Y. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc, đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh K không chịu làm ăn, hay uống rượu say về gây sự dẫn đến cãi vã, có lần đánh chị, đốt hết chăn màn, quần áo của ba mẹ con, thậm chí còn định đốt nhà. Chính quyền địa phương đã nhắc nhở nhưng anh K không thay đổi. Hiện tại hai người sống ly thân. Xác định không còn tình cảm vợ chồng, chị đề nghị giải quyết cho ly hôn. Chị và anh K có hai con chung là Hoàng Hữu S sinh ngày 03-01-2007 và Hoàng Thị Phương Th sinh ngày 11-7-2009, ly hôn chị sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con, không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng. Hiện tại chị đang làm công việc tự do tại địa phương, thu nhập bình quân hàng tháng từ 6 triệu đến 7 triệu đồng. Về tài sản chung, nợ chung chị không yêu cầu giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y đã ra văn bản thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Hoàng Văn K vắng mặt nên Toà án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục pháp luật quy định.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ thủ tục tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ; bị đơn được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, vắng mặt tại phiên toà là chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghi ̣ quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thườ ng vu ̣ Quốc Hô ̣i; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử cho chị Sằm Thị L được ly hôn với anh Hoàng Văn K; giao con chung cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Sằm Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa chị Sằm Thị L và anh Hoàng Văn K là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; các đương sự có địa chỉ thường trú tại xã AP- huyện L- tỉnh Y nên Tòa án nhân dân huyện L thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Mặc dù đã được triệu tập, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Hoàng Văn K vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Sằm Thị L và anh Hoàng Văn K kết hôn năm 2007, việc kết hôn này tuân thủ đúng những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình do đó đây là hôn nhân hợp pháp.

Tại điều 19 luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Kết quả xác minh tại địa phương cơ bản phù hợp với lời khai của nguyên đơn cho thấy do nhiều nguyên nhân nên trong thời gian qua vợ chồng chị L- anh K không hạnh phúc, trong đó nguyên nhân chính là do quan điểm, tính cách, lối sống không hợp nhau… Qúa trình giải quyết vụ án Toà án đã ra văn bản thông báo và triệu tập nhiều lần nhằm hoà giải để vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh K không có mặt tham gia các phiên hoà giải đã thể hiện không còn thiện chí tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân này nữa. Chị Sằm Thị L khẳng định tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết đề nghị giải quyết cho ly hôn. Qua đó cho thấy hôn nhân giữa chị L và anh K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Sằm Thị L có căn cứ chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị Sằm Thị L và anh Hoàng Văn K có hai cháu là Hoàng Hữu S sinh ngày 03-01-2007 và Hoàng Thị Phương Th sinh ngày 11-7-2009. Qúa trình giải quyết vụ án chị L đề nghị được nuôi các con, không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con.

Theo quy định tại khoản 2 điều 81 Luật hôn nhân và gia đình thì “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Trong biên bản lấy lời khai cả cháu Hoàng Hữu S và cháu Hoàng Thị Phương Th đều có nguyện vọng muốn được ở với mẹ. Mặt khác, trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh K không có mặt để thể hiện quan điểm về vấn đề nuôi con do đó cần giao các con cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Do chị L không yêu cầu nên anh K không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung; nợ chung: Chị L không yêu cầu nên việc giải quyết không đặt ra.

[5] Về án phí: Chị Sằm Thị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Sằm Thị L được ly hôn với anh Hoàng Văn K.

2- Về con chung: Căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; giao cả hai cháu là Hoàng Hữu S sinh ngày 03-01-2007 và Hoàng Thị Phương Th sinh ngày 11-7-2009 cho chị Sằm Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi; anh Hoàng Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3- Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghi ̣ quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thườ ng vu ̣ Quốc Hô ̣i quy đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử du ̣ng án phi và lê ̣ phi Tòa án; chị Sằm Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

́

́ Xác nhận chị L đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L- tỉnh Y theo biên lai số AA/2023/0001904 ngày 09-7-2024.

4- Quyền kháng cáo: Căn cứ điều 271, điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; chị Sằm Thị L có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Hoàng Văn K có quyền kháng cáo trong ha ̣n 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5- Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ