vanban.org

Bản án 104/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 16/05/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tô Ngọc T. Buộc bị đơn bà Thái Thị O phải trả cho nguyên đơn số tiền 15.

Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn ph…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "HĐ vay"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tô Ngọc T. Buộc bị đơn bà Thái Thị O phải trả cho nguyên đơn số tiền 15.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2024/DS-ST
Ngày 16 - 5 - 2024
“V/v tranh chấp hợp đồng vay”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thái Hoàng Đắc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Trọng Tâm

Bà Vũ Thị Mỹ Linh

- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 161/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2024/QĐXXST- DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Tô Ngọc T, sinh năm: 1975; Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Bà Thái Thị O, sinh năm: 1974; Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã Đ, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Bà Tô Ngọc T trình bày tại đơn khởi kiện và được bổ sung tại phiên tòa như sau:

Ngày 16/9/2022, bà Thái Thị O có mượn của bà số tiền 15.500.000 đồng, có biên nhận, không có lãi. Thời gian mượn đã lâu, bà đã nhiều lần yêu cầu nhưng bà O không trả nợ. Nay bà yêu cầu bà O trả cho bà số tiền 15.500.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn bà Thái Thị O trình bày:

Trước đây bà có vay của bà T số tiền 7.000.000 đồng, mỗi ngày đóng lãi cho bà T 70.000 đồng, đóng lãi hơn 01 năm do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên ngưng, việc vay tiền và trả lãi không có biên nhận. Còn khoản nợ 15.500.000 đồng do bà đứng ra vay dùm cho mẹ ruột bà là bà Đỗ Thị Lý nhưng thực tế bà chỉ vay 12.000.000 đồng, bà Lý đóng lãi bà T là 120.000 đồng/ngày, khoản vay này đã thanh toán xong, bà T đã xé bỏ biên nhận. Còn biên nhận 15.500.000 đồng do bà ghi nhầm. Hiện nay bà còn nợ bà T 7.000.000 đồng và đồng ý trả cho bà T số tiền này, không đồng ý trả 15.500.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Tô Ngọc T kiện đòi bị đơn bà Thái Thị O trả khoản nợ vay 15.500.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo biên nhận nợ vay ngày 16/9/2022 thể hiện bà Thái Thị O có mượn của bà T số tiền 15.500.000 đồng, các bên thừa nhận là có thực tế. Tuy nhiên, bà O cho rằng khoản nợ 15.500.000 đồng do bà đứng ra vay dùm cho mẹ ruột là bà Đỗ Thị Lý số tiền 12.000.000 đồng nhưng bà ghi nhầm thành 15.500.000 đồng. Tại phiên tòa, bà O khai: Bà Lý nhận tiền của bà T trước, sau đó bà Lý kêu bà O đến gặp và ký nhận nợ với bà T sau. Xét thấy lời trình bày của bà O là không có cơ sở chấp nhận. Tại biên bản hòa giải ngày 16/4/2024 bà Đỗ Thị Lý trình bày trước đây bà có nhờ bà O vay của bà T số tiền 12.000.000 đồng nhưng bà đã thanh toán xong cho bà T và xé bỏ biên nhận nợ này. Từ đó đến nay bà xác định không có vay thêm tiền của bà T và không nhờ bà O vay tiền của bà T nữa. Như vậy bà O cho rằng chỉ vay và còn nợ bà T số tiền 7.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ chứng minh, bà T không thừa nhận. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà T là có căn cứ được chấp nhận, buộc bà O trả cho bà T số tiền 15.500.000 đồng.

[3] Án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn phải chịu 775.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 143, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tô Ngọc T. Buộc bị đơn bà Thái Thị O phải trả cho nguyên đơn số tiền 15.500.000 đồng (mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn phải chịu 775.000 đồng. Nguyên đơn không phải nộp án phí, ngày 15/3/2024 nguyên đơn đã dự nộp tiền tạm ứng án phí 387.000 đồng theo biên lai thu số 0008253 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được trả lại cho nguyên đơn.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ