vanban.org

Bản án 104/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 29/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Huỳnh Thị Ngọc M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Ngọc M 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/10/2022. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thị Ngọc M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Huỳnh Thị Ngọc M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2023/HS-ST
Ngày: 29 - 6 -2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU- TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Trung Chiến.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Bình

Bà Phan Thị Thu Thảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Vạn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phan Mạnh Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm là phòng xét xử số 01, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai và điểm cầu thành phần tại nhà tạm giữ công an huyện vĩnh cửu, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Thị Ngọc M, sinh ngày 20/11/1966; tại thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: Không xác định được; Nơi cư trú: Khu phố 1, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: Lớp 02/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Huỳnh Văn T (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị G (đã chết); Gia đình không có anh chị em, sống chung như vợ chồng với Châu Văn B, sinh năm 1962 và chưa có con.

Tiền án:

- Ngày 22/4/1998, Trần Thị Ngọc T1 bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 15 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân” (Bản án số: 107 ngày 22/4/1998). Ngày 15/01/1999 Trần Thị Ngọc T1 chấp hành xong hình phạt tù; chưa chấp hành án phí hình sự 50.000 đồng.

- Ngày 02/02/2010, Huỳnh Thị Ngọc M bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án 12 ngày 02/2/2010). Ngày 22/7/2015, Huỳnh Thị Ngọc M chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành phần án phí.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 13/11/1987, Huỳnh Thị Ngọc M bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày 24/4/1987 (Bản án số 390 ngày 13/11/1987).

- Ngày 18/5/1988, Trần Thị Ngọc T1 bị Công an Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi trốn Trường giáo dưỡng. Ngày 25/5/1988, Công an thành phố Hồ Chí minh lập hồ sơ trốn trường giáo dưỡng.

- Ngày 06/12/1993, Huỳnh Thị Ngọc M bị Công an Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh lập hồ sơ về hành vi gái mại dâm và đưa vào Trung tâm giáo dục dạy nghề Thủ Đức Sở lao động Thương binh và Xã hội.

- Ngày 05/4/1988, Lê Thị Hồng L bị Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi trộm cắp tài sản của công dân.

Bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 19/10/2022, chuyển tạm giam ngày 27/10/2022 theo Lệnh số: 2844/L của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Cửu.

Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần là phòng xét xử trực tuyến đặt tại nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Có sự tham gia giám sát, bảo vệ của cán bộ, chiến sỹ của Công an huyện Vĩnh Cửu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Thị Ngọc M là đối tượng nghiện ma túy và biết tại khu vực Công viên 30/4 thuộc phường Hố Nai, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai có người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ) bán ma túy. Khoảng 05 giờ ngày 18/10/2022, M thuê xe ôm đến Công viên 30/4 gặp người phụ nữ mua 3.700.000 đồng ma túy đá đựng trong túi zip bên trong có 2 bịch ni lon được hàn kín và đưa về nhà M tại khu phố 1, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. M dùng giấy vệ sinh quấn quanh số ma túy và bỏ vào vỏ bao thuốc lá hiệu Hero cất trên kệ bếp, khi có người đến mua ma túy M lấy một phần ma túy cho vào đoạn ống hút nhựa, dùng lửa hàn kín hai đầu và bán lại kiếm lời. Ngày 18/10/2022, M đã bán ma túy cho 03 đối tượng (không rõ họ tên địa chỉ) được 600.000 đồng, M tiêu xài hết 200.000 đồng và còn lại 400.000 đồng.

Khoảng 13 giờ cùng ngày có đối tượng tên thường gọi M1, ngụ tại xã Trị An, huyện Vĩnh Cửu chở Nguyễn Bá Q, sinh năm 1990, ngụ tại tổ 7, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến nhà M để mua ma túy. M1 dừng xe đứng chờ bên ngoài, Q vào nhà gặp M mua 200.000 đồng ma túy đá. Sau khi Q nhận ma túy từ M và cầm trên tay trên đường đi ra nơi M1 đứng chờ. Q nhìn thấy lực lượng Công an đang tuần tra, Q ném đoạn ống hút chứa ma túy xuống cống nước trước nhà M, còn M1 điều khiển xe thoát chạy. Lực lượng Công an thị trấn Vĩnh An vào nhà M kiểm tra phát hiện số ma túy M cất giấu nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Huỳnh Thị Ngọc M, chuyển giao hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu giải quyết theo thẩm quyền.

+ Tang vật thu giữ:

- 01 túi zip bên trong có 02 bịch nylon hàn kín, mỗi bịch chứa tinh thể màu trắng (được niêm phong theo quy định).

- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 bình thủy tinh, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút.

- Số tiền 400.000 đồng.

Đối với số ma túy Q mua của M, khi bị Công an phát hiện Q vứt xuống cống nước cạnh nhà M, lực lượng Công an truy tìm nhưng không thu giữ được.

+ Tại Kết luận giám định số: 2204/KL-KTHS ngày 25/10/2022 của Giám định viên Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 8,7319 gam, loại Methamphetamine.

Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 8,7104 gam (được niêm phong kí hiệu số 2204/KL-KTHS).

Tại phiên tòa bị cáo, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa không ai có ý kiến gì đối với kết luận giám định.

Quá trình điều tra xác định bị cáo Huỳnh Thị Ngọc M đã 03 lần bị Tòa án nhân dân xét xử về các tội Mua bán trái phép chất ma túy, Cướp tài sản, Cướp giật tài sản; 03 lần bị cơ quan Công an lập hồ sơ xử lý về hành vi trộm cắp, gái mãi dâm, trốn khỏi trường giáo dưỡng, các lần này ngoài tên Huỳnh Thị Ngọc M còn có tên khác: Trần Thị Ngọc T1, Lê Thị Hồng L. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu thu thập danh chỉ bản các lần phạm tội, vi phạm trước đây và tiến hành trưng cầu giám định dấu vân tay. Tại Kết luận giám định số: 964/KL-KTHS ngày 15/5/2023 của Giám định viên Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Các chỉ điểm vân tay trên tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với các chỉ điểm vân tay tương ứng trên các tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu từ M1- M5) là chỉ điểm vân tay do cùng một người in ra.

Từ cơ sở trên có căn cứ xác định Trần Thị Ngọc T1, Lê Thị Hồng L và Huỳnh Thị Ngọc M là một người.

+ Xử lý vật chứng: Viện kiểm sát đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 8,7104 gam (được niêm phong trong phong bì kí hiệu số: 2204/KL-KTHS); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 bình thủy tinh, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút.

- Tịch thu 400.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước; buộc Huỳnh Thị Ngọc M nộp 200.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với Nguyễn Bá Q có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng số ma túy Q đã vứt bỏ khi bị Công an phát hiện. Quá trình điều tra không thu giữ được, nên không có cơ sở kết luận khối lượng ma túy Q tàng trữ. Vì vậy không có căn cứ để xử lý Nguyễn Bá Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với đối tượng tên M1 chở Q đến nhà M mua ma túy. Kết quả xác minh chưa xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Ngoài hành vi trên, Huỳnh Thị Ngọc M khai nhận đã bán ma túy cho 03 người (không rõ họ tên, địa chỉ). Quá trình điều tra không xác định được người mua ma túy của M nên không có căn cứ xử lý M về hành vi này.

Tại bản cáo trạng số: 112/CT-VKSVC ngày 02/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Huỳnh Thị Ngọc M xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i, q khoản 2, Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai rút phần quyết định truy tố về tái phạm nguy hiểm chỉ đề nghị truy tố theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và đề nghị:

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Ngọc M từ 8 đến 10 năm tù.

- Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra, thể hiện:

Ngày 18/10/2023, Huỳnh Thị Ngọc M mua 3.700.000 đồng ma túy đá của một người phụ nữ tại khu vực Công viên 30/4 thuộc phường Hố Nai, thành phố Biên Hòa mang về nhà M tại khu phố 1, thị trấn V, huyện V cất giấu. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 18/10/2022, Đỗ Ngọc Q đến nhà M mua ma túy thì bị lực lượng Công an thị trấn Vĩnh An phát hiện bắt giữ. Lực lượng Công an tiến hành kiểm tra nhà M phát hiện Huỳnh Thị Ngọc M có hành vi tàng trữ trái phép 8,7319 gam ma túy, loại Methamphetamine để bán lại cho người khác.

. Do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý về các chất ma túy của Nhà nước, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, hiểu rất rõ tác hại của chất ma túy nhưng bị cáo bất chấp quy định của pháp luật đã thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo khai bán ma túy nhiều lần. Đây là nguyên nhân, mầm mống lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, đồng thời cũng là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo đã bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và cướp giật tài sản, nhưng bị cáo không lấy đó để tự răn đe mà tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần có mức án nghiêm tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung, nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.

. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình Sự.

. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

7.1. Đối với số ma túy còn lại sau giám định trong niêm phong số: 2204/KL-KTHS tên đối tượng Huỳnh Thị Ngọc M niêm phong ngày 25/10/2022 không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

7.2. Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 bình thủy tinh, 01 ống hút, 01 nỏ thủy tinh không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

7.3. Đối với số tiền 400.000 đồng bị cáo thu được từ tiền bán ma túy, nên tịch thu sung công nhà nước.

7.4. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo: Huỳnh Thị Ngọc M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i khoản 2, Điều 251; điểm s, khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 262; 331; 333; 336; 337 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Ngọc M 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/10/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong niêm phong số: 2204/KL-KTHS tên đối tượng Huỳnh Thị Ngọc M niêm phong ngày 25/10/2022.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 bình thủy tinh, 01 ống hút, 01 nỏ thủy tinh. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.

- Tịch thu sung công số tiền 400.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0007145 ngày 13/6/2023 của chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu

- Buộc bị cáo Huỳnh Thị Ngọc M phải nộp 200.000 đồng sung ngân sách nhà nước.

3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ