- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trũ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Bá T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 104/2023/HS-ST Ngày 08-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Xuân Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Tiến và bà Đỗ Thị Thu Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Nhật Khánh - Thư ký TAND huyện Thái Thụy
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Giang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2023/TLST-HS ngày 14/7/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2023/QĐXXST-HS ngày 27/7/2023 đối với bị cáo:
Lê Bá T, sinh ngày 22/3/1978 tại huyện T1, tỉnh Thái Bình; ĐKHK: Thôn B, xã X, huyện T1, tỉnh Thái Bình; Nơi ở hiện nay: Thôn V, xã X, huyện T1, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Minh Đ, sinh năm 1949 và bà Đỗ Thị S, sinh năm 1950; Có vợ là Nguyễn Thị Â, sinh năm 1986 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con (con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Từ tháng 3/1996 đến tháng 6/1998 tham gia nghĩa vụ quân sự, đóng quân tại Vùng 4 Hải quân. Bản án số 18/HSST ngày 14/4/2017 bị Toà án nhân dân huyện Thái Thuỵ xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý gây thương tích” (đã nộp phạt trách nhiệm dân sự 17.075.000 đồng và án phí); Bản án số 48/HSPT ngày 19/9/2020 bị Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 07 tháng tù về tội “Đánh bạc” (ngày 16/02/2021 chấp hành xong án phạt tù, ngày 16/10/2020 chấp hành xong án phí, ngày 17/12/2021 chấp hành xong hình phạt bổ sung 3.000.000 đồng); Bị cáo tạm giữ từ ngày 29/3/2023 đến ngày 01/4/2023 chuyển tạm giam; đến ngày 07/4/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. (Có mặt)
- Người chứng kiến:
+ Anh Đỗ Quang Tr, sinh năm 1986 ; (Vắng mặt)
+ Ông Bùi Đình H, sinh năm 1959; (Vắng mặt)
Đều có địa chỉ: Thôn K, xã X1, huyện T1, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 29/3/2023, Lê Bá T đi bộ từ nhà ra khu vực ngã tư xã X đi nhờ xe máy của một người không quen biết đến khu vực cầu D, T xuống xe đi bộ vào đường đê thuộc thôn C, xã TTh, huyện T1, tỉnh Thái Bình. Tại đây, T gặp và mua được của một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ 03 gói ma túy loại Heroine với giá 300.000 đồng, T cầm 03 gói ma túy ở bàn tay trái rồi đi bộ tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị tổ công tác của Đồn Biên phòng TL, Đội đặc nhiệm phòng chống ma túy và tội phạm Bộ đội Biên phòng tỉnh Thái Bình phối hợp với Công an xã TTh đang làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Đỗ Quang Tr và ông Bùi Đình H, T tự nguyện giao cho tổ công tác 03 gói được gói bằng giấy trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục, T khai đó là ma túy, loại Heroine của T vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác Bộ đội Biên phòng và Công an xã TTh tiến hành kiểm tra người T nhưng không phát hiện thu giữ gì khác. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng đồng thời đưa T và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an xã TTh lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định của pháp luật. Cùng ngày, Đồn Biên phòng TL tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T nhưng không phát hiện thu giữ gì.
Kết luận giám định số 456/KL-KTHS ngày 30/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: "Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroin (heroine), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, có khối lượng 0,3478 gam". Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định nêu trên.
Bản cáo trạng số 94/CT-VKSTT ngày 13/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Lê Bá T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Lê Bá T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,3298gam Heroine và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 456/KL-KTHS của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội và yên tâm chữa bệnh do bị cáo đang mắc bệnh hiểm nghèo ung thư máu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Bá T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang của Đồn biên phòng TL, Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Thái Bình lập ngày 29/3/2023; Các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu lập ngày 29/3/2023; Kết luận giám định số 456/KL-KTH ngày 30/3/2023 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến anh Đỗ Quang Tr và ông Bùi Đình H và các chứng cứ nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 10 giờ 30 phút ngày 29/3/2023, tại khu vực đường đê thuộc thôn C, xã TTh, huyện T1, tỉnh Thái Bình, Lê Bá T đã có hành vi tàng trữ trái phép ở bàn tay trái 03 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,3478 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân, bị tổ công tác của Đồn Biên phòng TL, Đội đặc nhiệm phòng chống ma túy và tội phạm Bộ đội Biên phòng tỉnh Thái Bình phối hợp với Công an xã TTh bắt quả tang. Hành vi của bị cáo T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn xâm phạm đến an ninh, trật tự công cộng và an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được tác hại rất lớn của ma túy, nhận thức được việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp mua về và cất giữ trong người để sử dụng cho bản thân với lỗi cố ý trực tiếp.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Lê Bá T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích, nhận định về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo và góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng xem xét thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật, chính sách nhân đạo của Đảng và nhà nước ta, vừa tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo và chữa bệnh ung thư máu, sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Do bị cáo là lao động tự do, không có tài sản gì có giá trị, không có thu nhập ổn định, lại đang điều trị bệnh hiểm nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Số ma tuý hoàn lại sau giám định 0,3298gam Heroine và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 456/KL-KTHS của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy, T khai mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng ở khu vực đường đê thuộc thôn c, xã TTh, huyện T1, tỉnh Thái Bình nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Bá T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Hình phạt:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự : Xử phạt bị cáo Lê Bá T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 29/3/2023 đến ngày 07/4/2023, không phạt bổ sung bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 0,3298 gam (Không phẩy ba nghìn hai trăm chín mươi tám gam) ma tuý loại Heroine gửi giám định và bao gói quản lý của Lê Bá T trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 456/KL-KTHS của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
(Các tài sản đồ vật trên có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy ngày 21/7/2023).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Lê Bá T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Lê Bá T có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 08/8/2023.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - TAND tỉnh Thái Bình; - VKSND huyện Thái Thụy; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS huyện Thái Thụy; - Công an huyện Thái Thụy; - Công an tỉnh Thái Bình (PC10); - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình; - UBND xã X; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Xuân Quỳnh Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đào Thị Xuân Quỳnh |