vanban.org

Bản án 104/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng N đối với anh Huỳnh Công N về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn anh Huỳnh Công N. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hồng N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung cháu Huỳnh Nguyễn Huyền N, sinh ngày 16/12/2006. Anh Huỳnh Công N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp anh Huỳnh Công… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng N - bị đơn: Anh Huỳnh Công N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng N đối với anh Huỳnh Công N về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ D

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 104/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 04-8-2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thu Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Lệ Chi

Ông Nguyễn Văn Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 196/2023/TLST-HNGĐ ngày 30/5/2023 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 77/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1984; địa chỉ thường trú: Số E, đường F, khu phố Tây B, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Công N, sinh năm 1976; địa chỉ thường trú: K, đường N, khu phố M, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ tạm trú: Số L, đường H, khu phố B, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/5/2023; bản tự khai ngày 01/6/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Huỳnh Công N tự nguyện yêu nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C (nay là phường C), thành phố C, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 97/2003, quyển số 01, ngày 19/6/2003. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 con chung. Sau đó vợ chồng đã có những mâu thuẫn, nhưng do các con còn nhỏ nên chị N cam chịu sống chung với anh N trong 20 năm nay. Nguyên nhân là do anh N thường xuyên nhậu nhẹt, gây ra nợ nần, làm ảnh hưởng đến chị N và các con. Từ lúc sống chung đến nay, anh N không chịu tu chí làm ăn mà chỉ ham chơi, không xây dựng kinh tế gia đình. Chị N đã nhiều lần cho anh N cơ hội để thay đổi nhưng anh N vẫn không thay đổi. Chị N và anh N đã sống ly thân khoảng hơn 03 tháng nay, chị N ở nhà của chị N tại số E, đường F, khu phố Tây B, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương, còn anh N ở nhà của cha mẹ anh N tại số L, đường H, khu phố B, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Chị N xác định không còn tình cảm với anh N và có đơn khởi kiện ly hôn anh N.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Huỳnh Nguyễn Kim H, sinh ngày 18/4/2004 và Huỳnh Nguyễn Huyền N, sinh ngày 16/12/2006. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung cháu Huỳnh Nguyễn Huyền N, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung cháu Huỳnh Nguyễn Kim H đã trưởng thành nên chị N không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Huỳnh Công N vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh N nhưng anh N vẫn không có ý kiến gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị N có yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Huỳnh Công N đã được Tòa án niêm yết hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Hôn nhân giữa chị N và anh N là hợp pháp. Quá trình sống chung vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân và hiện tại chị N không còn tình cảm với anh N, do đó, cần giải quyết ly hôn cho chị N và anh N. Về con chung, vợ chồng có 02 con chung tên Huỳnh Nguyễn Kim H, sinh ngày 18/4/2004 (đã hơn 19 tuổi) và Huỳnh Nguyễn Huyền N, sinh ngày 16/12/2006 (đã hơn 16 tuổi). Khi ly hôn, chị N yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu Huỳnh N, tại đơn trình bày nguyện vọng thì cháu Huyền N có nguyện vọng được sống cùng với chị N. Do đó, cần giao cháu Huyền N cho chị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với con chung cháu Kim H đã trưởng thành nên chị N không yêu cầu Toà án giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của nguyên đơn và ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về Tố tụng:

Về tố tụng thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Hồng N khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với anh Huỳnh Công N. Anh N có địa chỉ thường trú tại số K, đường N, khu phố M, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ tạm trú: Số L, đường H, khu phố B, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Căn cứ các Điều: 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Về sự có mặt của các đương sự tại phiên tòa: Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng N có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn anh Huỳnh Công N đã được Tòa án niêm yết hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227, các Điều 228, 229, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh N tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C (nay là phường C), thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 97/2003, quyển số 01, ngày 19/6/2003 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 con chung. Sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh N thường xuyên nhậu nhẹt, gây ra nợ nần, làm ảnh hưởng đến chị N và các con. Từ lúc sống chung đến nay, anh N không chịu tu chí làm ăn mà chỉ ham chơi, không xây dựng kinh tế gia đình. Chị N đã nhiều lần cho anh N cơ hội để thay đổi nhưng anh N vẫn không thay đổi. Hiện tại, vợ chồng đã sống ly thân khoảng hơn 03 tháng nay, chị N xác định không còn tình cảm với anh N và có đơn khởi kiện ly hôn anh N. Quá trình giải quyết vụ án, chị N xác định anh N có đăng ký thường trú tại số K, đường N, khu phố M, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ tạm trú: Số L, đường H, khu phố B, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tại Phiếu xác minh ngày 21/6/2023, Công an phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương cung cấp thông tin: “Công dân Huỳnh Công N, sinh ngày 11/6/1976 có hộ khẩu thường trú tại số K, đường N, khu phố M, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương.Hiện nay, công dân đang sinh sống tại số L, đường H, khu phố B, phường C, thành phố D, tỉnh Bình Dương”. Tòa án nhân dân thành phố D cũng đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ thường trú và tạm trú của anh N nhưng anh N vẫn không có văn bản gửi cho Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét, lời trình bày của chị N và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng: Tại khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về tình nghĩa vợ chồng như sau: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Chị N xác định vợ chồng đã sống ly thân và hiện tại chị N không còn tình cảm với anh N, cả hai không còn quan tâm lẫn nhau. Đối chiếu quy định của pháp luật nêu trên thì mục đích hôn nhân giữa chị N và anh N không đạt được nên cần giải quyết cho chị N và anh N ly hôn, phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình sống chung, chị N và anh N có 02 con chung tên Huỳnh Nguyễn Kim H, sinh ngày 18/4/2004 và Huỳnh Nguyễn Huyền N sinh ngày 16/12/2006. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung cháu Huỳnh Nguyễn Huyền N, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung cháu Huỳnh Nguyễn Kim H đã trưởng thành nên chị N không yêu cầu Toà án giải quyết. Xét, yêu cầu của chị N thấy rằng: Cháu Huỳnh Nguyễn Huyền N, sinh ngày 16/12/2006 (đã hơn 16 tuổi) là nữ, hiện đang sống cùng với chị N và chị gái là cháu Kim H, do chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng phát triển tốt, cho đi học. Tại Đơn trình bày nguyện vọng của cháu Huyền N thì cháu có nguyện vọng được sống cùng với chị N. Vì vậy, để tạo điều kiện phát triển về mọi mặt và tránh làm xáo trộn cuộc sống ổn định của cháu nên cần giao cháu Huyền N cho chị N chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận sự tự nguyện của chị N về việc không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung cháu Kim H đã trưởng thành, chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án, chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp pháp luật.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị N phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều: 28, 37, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 19 và các Điều: 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng N đối với anh Huỳnh Công N về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn anh Huỳnh Công N.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hồng N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung cháu Huỳnh Nguyễn Huyền N, sinh ngày 16/12/2006. Anh Huỳnh Công N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp anh Huỳnh Công N lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Nguyễn Thị Hồng N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Huỳnh Công N. Vì quyền lợi hợp pháp của con, việc cấp dưỡng nuôi con, thay đổi người nuôi con sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Hồng N về việc không yêu cầu anh Huỳnh Công N cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Hồng N không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Hồng N phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006434, ngày 29/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Huỳnh Công N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ