vanban.org

Bản án 104/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh T ly hôn chị H"
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2023/HNGĐ-ST
Ngày 29-8-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đăng Ninh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Mai

Bà Lê Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Ngọc Triều – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n L c ên, t nh ên Bái tham gia phiên tòa: Ông Lý Văn Tầm – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 201/2023/TLST–HNGĐ ngày 20-7-2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2023/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: anh Lý Văn T – sinh năm 1994

Địa chỉ: Thôn Phúc H, xã Đông C, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt, có lý do)

2. Bị đơn: chị Hoàng Thúy H – sinh năm 2000

Địa chỉ: Thôn Minh T, xã Minh T, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái (vắng mặt, có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20-7-2023, các lời khai tiếp theo nguyên đơn Lý Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh và chị Hoàng Thúy H kết hôn vào ngày 09-8-2021 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại y ban nhân dân (UBND) xã Minh T, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuân, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi chửi nhau. Vợ chồng không thể hòa hợp và sống ly thân từ năm 2022. Đến nay xác định tình cảm không còn, anh Thu yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: anh và chị H có 01 con là Lý Tuấn H, sinh ngày 15-8-2021, hiện đang ở cùng chị H. Sau khi ly hôn, anh có yêu cầu chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng con, anh có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con số tiền 1.000.000đ/tháng.

Về tài sản chung và nợ chung: anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại các lời khai và phiên tòa bị đơn Hoàng Thúy H đồng ý về thời gian, địa điểm, điều kiện kết hôn với nội dung như anh Thu trình bày. Quá trình chung sống thực tế có mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng sống ly thân. Nay anh T có yêu cầu ly hôn, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung: chị và anh T có 01 con là Lý Tuấn H, sinh ngày 15-8-2021. Khi ly hôn, chị có yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con và yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con số tiền: 3.000.000đ/tháng.

Về tài sản chung và nợ chung: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án, các đương sự có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải, do đó vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Tòa án lập biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên phát biểu ý kiến cho rằng trong quá trình tố tụng, Tòa án và nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử về nội dung vụ án như sau:

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

Về quan hệ hôn nhân: giải quyết cho anh Lý Văn T được ly hôn với chị Hoàng Thúy H.

Về con chung: giao cho chị Hoàng Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng con Lý Tuấn H, sinh ngày 15-8-2021, anh Lý Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con số tiền: 1.000.000đ/tháng.

Về án phí nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật tổng số tiền: 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng).

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

1 Về thủ tục tố tụng: Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2] Về quan hệ hôn nhân: anh Lý Văn T và chị Hoàng Thúy H kết hôn có đăng ký tại UBND xã Minh T, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái theo Giấy chứng nhận kết hôn số 20-2021 ngày 09-9-2021. Việc kết hôn này tuân thủ đúng các quy định của Luật hôn nhân và gia đình, do đó đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu c u ly hôn của nguyên đơn: qua lời khai của các đương sự thừa nhận quá trình chung sống thực tế có mâu thuẫn dẫn đến sống ly thân, mâu thuẫn kéo dài vợ chồng không có biện pháp nào để khắc phục tình trạng hôn nhân. Theo nội dung đơn đề nghị xét xử vắng mặt, các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.

Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị H đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn, có căn cứ chấp nhận.

3] Về con chung: anh T và chị H có 01 con là Lý Tuấn H, sinh ngày 15-8-2021. Tại lời khai các đương sự đều có yêu cầu sau khi ly hôn, chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng con.

Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con, theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao con Lý Tuấn H cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, là phù hợp.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của anh Thu (là lao động tự do thu nhập bình quân: 5.000.000đ – 6.000.000đ/tháng) và nhu cầu thiết yếu của con tại địa phương (theo kết quả xác minh: 2.000.0000đ/tháng) thì với mức cấp dưỡng nuôi con số tiền: 1.000.000đ/tháng, là phù hợp.

4] Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5] Về án phí: anh Lý Văn T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly

hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

6 Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

7] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ Luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ Điều 56, 57, 81, 82, 83, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ Luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của y ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan h hôn nhân: anh Lý Văn T được ly hôn với chị Hoàng Thúy H. 2. Về con chung: giao cho chị Hoàng Thúy H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con là Lý Tuấn H, sinh ngày 15-8-2021 cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Anh Lý Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con số tiền: 1.000.000đ (một triệu đồng)/tháng .Thời điểm từ tháng 09/2023 trở đi cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày có đơn yêu c u thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền cấp dưỡng nêu trên) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: anh Lý Văn T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2021/0001043 ngày 20-7-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Anh T còn phải nộp số tiền: 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

“Tr êng hîp b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t i §iÒu 2 luËt Thi hµnh ¸n d©n sù th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tháa thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t i §iÒu 6, 7 vµ 9 luËt Thi hµnh ¸n d©n sù; thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t i §iÒu 30 luËt Thi hµnh ¸n d©n sù”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ