- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kim Thị Sô Ph - Danh L"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Kim Thị Sô Ph.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bà Kim Thị Sô Ph; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 104/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11/9/2023. V/v: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Danh Quí.
2. Ông Lý Tuấn Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên toà: Ông Danh Vũ Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 239/2023/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 5 năm 2023, về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 118/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 21 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Kim Thị Sô Ph – sinh năm 1995, có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: ấp N, xã L, huyện Tr, tỉnh Tr.
2. Bị đơn: Ông Danh L – sinh năm 1990, vắng mặt.
Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/8/2022, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn bà Kim Thị Sô Ph như sau:
Bà và ông Danh L cưới nhau vào năm 2013, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Tr, tỉnh Tr vào ngày 09/3/2015.
Sau khi kết hôn, vợ chồng bà sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, Nguyên nhân là do ông L không quan tâm, không lo lắng cho vợ, hay nhậu nhẹt và ghen tuông. Vào khoảng năm 2017, khi thấy bà xài kem body thì ông L ghen chửi bà, hai bên nói qua nói lại thì ông L đánh bà, sau đó vài ngày thì ông L bỏ đi cho đến nay. Từ khi ông L bỏ đi đến nay, vợ chồng bà không liên lạc với nhau, ông L cũng không tới lui thăm nom con. Sau thời gian mâu thuẫn và sống ly thân, bà xét thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không còn hàn gắn được nên bà yêu cầu tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Danh L.
Thời gian chung sống với nhau vợ chồng bà có 01 người con chung tên Danh Tuấn C - sinh ngày 10/11/2013.
Về tài sản chung: Vợ chồng bà không có tài sản chung.
Về nợ chung: Bà cam đoan vợ chồng bà không có nợ chung.
Nguyện vọng:
Về quan hệ hôn nhân: Bà xin được ly hôn với ông Danh L.
Về con chung: Bà xin nuôi con chung tên Danh Tuấn Cg - sinh ngày 10/11/2013 và không yêu cầu ông Danh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Danh L đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông Danh L không đến Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của ông Danh L.
- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa:
Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ kiện; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa là không tuân thủ quy định của pháp luật, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn, nguyên đơn.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự tại phiên tòa, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Kim Thị Sô Ph được ly hôn với ông Danh L. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin nuôi con chung của bà Kim Thị Sô Ph. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên Viện kiểm sát không có đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Kim Thị Sô Ph và ông Danh L là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Kim Thị Sô Ph có đơn xin xét xử vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của bà Kim Thị Sô Ph không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bà Kim Thị Sô Ph.
Ông Danh L là bị đơn trong vụ án, ông Danh L có địa chỉ rõ ràng, đó cũng là nơi ông đăng ký hộ khẩu thường trú, hiện nay ông Danh L vẫn còn hộ khẩu thường trú ở địa chỉ trên, ngày 20 tháng 12 năm 2022, Tòa án làm việc với ông Nguyễn Thành Phương, giữ chức vụ Trưởng ấp Vĩnh Tân, xã Vĩnh Thắng, huyện Gò Quao để xác minh về tình trạng hôn nhân và nơi cư trú của ông Danh L và bà Kim Thị Sô Ph thì được ông Phương cho biết ông Danh L hiện vẫn còn hộ khẩu ở ấp Vĩnh Tân, xã Vĩnh Thắng, huyện Gò Quao nhưng ông Danh L hiện không có mặt tại địa phương, trong quá trình chung sống vợ chồng họ không có mâu thuẫn, tranh chấp gì lớn cần chính quyền địa phương can thiệp, tài sản chung và nợ chung thì ông Phương cho biết không có ai tranh chấp nợ nần, tài sản gì với họ. Tòa án đã thực hiện các thủ tục niêm yết công khai theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Danh L vắng mặt tại phiên tòa 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Danh L.
Về hôn nhân: Bà Kim Thị Sô Ph và ông Danh L cưới nhau vào năm 2007, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã Long Hiệp, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 23/2015, ngày 09/3/2015, như vậy Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của bà Kim Thị Sô Ph và ông Danh L là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Tuy hôn nhân của bà Kim Thị Sô Ph và ông Danh L là hôn nhân tự nguyện và vợ chồng ông bà có thời gian chung sống hạnh phúc và có 01 người con chung nhưng trong quá trình sống chung vợ chồng ông bà phát sinh mâu thuẫn đã không tự giải quyết gắn được. Bà Kim Thị Sô Ph cho rằng do ông Danh L không quan tâm, không lo lắng cho vợ, hay nhậu nhẹt và ghen tuông. Vào khoảng năm 2017, khi thấy bà xài kem body thì ông Danh L ghen chửi bà, hai bên nói qua nói lại thì ông L đánh bà, sau đó vài ngày thì ông L bỏ đi cho đến nay. Từ khi ông L bỏ đi cho đến nay, vợ chồng bà không liên lạc với nhau, ông L cũng không tới lui thăm nom con. Ngày 05/7/2023 và ngày 27/7/2023, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng ông Danh L vắng mặt tại Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay yêu cầu nào của ông Danh L. Xét thấy, vợ chồng bà Kim Thị Sô Ph và ông Danh L đã sống ly thân với nhau tính đến ngày xét xử là hơn 05 năm. Trong thời gian này, ông Danh L không liện lạc với bà Sô Ph và cũng không thăm nom con, điều đó chứng minh ông Danh L không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này và bà không có ý định hàn gắn, cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được. Bà Kim Thị Sô Ph cương quyết xin ly hôn với ông Danh L và khẳng định không còn tình cảm yêu thương đối với ông Danh L, vì vậy, áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Kim Thị Sô Ph.
Về con chung: Bà Kim Thị Sô Ph và ông Danh L có 01 người con chung tên Danh Tuấn C - sinh ngày 10/11/2013, hiện bà Kim Thị Sô Ph đang chịu trách nhiệm nuôi dưỡng.
Ông Danh L không có ý kiến gì về quyền nuôi con chung. Bà Kim Thị Sô Ph yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và cháu Cường có nguyện vọng sống chung với mẹ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin nuôi con chung của bà Kim Thị Sô Ph.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Kim Thị Sô Ph không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Kim Thị Sô Ph không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa, sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ của nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát có đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Bà Kim Thị Sô Ph phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0006834, ngày 11/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 58 và 131 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Kim Thị Sô Ph.
Về hôn nhân: Xử cho bà Kim Thị Sô Ph và ông Danh L ly hôn với nhau.
Về con chung: Giao cháu Danh Tuấn C - sinh ngày 10/11/2013 cho bà Kim Thị Sô Ph tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Ông Danh L được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Không ai được ngăn cản ông thực hiện quyền này.
Các đương sự được quyền xin thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: HĐXX miễn xét.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Kim Thị Sô Ph phải chịu nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0006834, ngày 11/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS Gò Quao; - Chi cục THA; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Phan Thị Thùy Trang |