vanban.org

Bản án 104/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Út Đ đối với bà Ngô Thị D.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Văn Út Đ với bà Ngô Thị D là vợ chồng. Về con chung: Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1997 và Nguyễn Thị Ái N, sinh năm 2001 (đã trưởng thành). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Út Đ đối với bà Ngô Thị D.
  • Căn cứ chính? Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án: 104/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19-4-2023
V/v “ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Trần Thị Đổi.

2/ Ông Nguyễn Chí Lin.

Thư ký Tòa án: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa, là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 19 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa (toạ lạc tại Khu B, thị trấn Hậu Nghĩa) tiến hành xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 306/2023/TLST-HNGĐ ngày 21/3/2023 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/3/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Út Đ, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L (vắng mặt).

Bị đơn: Bà Ngô Thị D, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/02/2023 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn Út Đ trình bày: Ông và bà D sống với nhau năm 1995, không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã. Nay thấy tình cảm không còn và cũng không thể hàn gắn nên ông xin ly hôn bà D, vì bận công việc nên ông xin vắng mặt tại phiên xét xử của tòa án.

Về con chung: Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1997, Nguyễn Thị Ái N, sinh năm 2001 (các con đã trưởng thành).

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn bà Ngô Thị D trình bày trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Bà xác nhận thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn là đúng, vợ chồng chung sống với nhau từ năm 1995 nhưng không đăng ký kết hôn. Nay ông Đen xin ly hôn thì bà đồng ý, vì bận việc nên bà xin vắng mặt tại phiên xét xử của tòa án.

Về con chung: Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1997, Nguyễn Thị Ái N, sinh năm 2001 (các con đã trưởng thành).

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công khai tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn Út Đ khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Ngô Thị D, bà D hiện cư trú tại xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Đen và bà D có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Út Đ và bà Ngô Thị D chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1995, không có đăng ký kết hôn. Việc ông Đen và bà D sống với nhau không đăng ký kết hôn căn cứ vào văn bản xác nhận của UBND xã Đức Lập Hạ ngày 16/03/2023. Vì vậy, hôn nhân giữa anh ông Đen và bà D không được xem là hôn nhân hợp pháp vì đã vi phạm vào Điều 9 của Luật hôn nhân gia đình. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình, không công nhận ông Nguyễn Văn Út Đ và bà Ngô Thị D là vợ chồng.

Về con chung: Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1997 và Nguyễn Thị Ái N, sinh năm 2001 (đã trưởng thành).

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Đen và bà D khai không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn Út Đ chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 16, Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Út Đ đối với bà Ngô Thị D.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Văn Út Đ với bà Ngô Thị D là vợ chồng.

Về con chung: Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1997 và Nguyễn Thị Ái N, sinh năm 2001 (đã trưởng thành).

Về tài sản chung và nợ chung:

2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn Út Đ chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ nhà nước, ông Đen được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006371 ngày 20/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà để thi hành.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để xin xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ