vanban.org

Bản án 104/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị H đối với ông Phạm Việt T.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Thái Thị H được ly hôn với ông Phạm Việt T. Về con chung: Giao cháu Phạm Thái Bảo T (nữ) sinh ngày 13/3/2011 cho bà Thái Thị H nuôi dưỡng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Bà Thái Thị H không yêu cầu ông Phạm Việt T cấp dưỡng nuôi con chung nên ông T chưa phải cấp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hằng xin ly hôn với Thủy"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị H đối với ông Phạm Việt T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH A
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25 – 8 – 2023
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chúc Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Hoa Lài

2. Ông Hồ Thanh Trí

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 108/2023/TL.ST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Thái Thị H

Địa chỉ: Ấp THA, xã TLA, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Phạm Việt T

Địa chỉ: Ấp THA, xã TLA, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn Thái Thị H trình bày: Bà và ông Phạm Việt T tự nguyện tìm hiểu, tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào năm 2003. Quá trình chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Bà cảm thấy hôn nhân không mang lại hạnh phúc, nên bà và ông T đã ly thân khoảng 06 tháng nay. Bà thấy không thể tiếp tục chung sống với ông T nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Có 02 (hai) con chung là Phạm Thái T (nam) sinh ngày 27/6/2004 và Phạm Thái Bảo T (nữ) sinh ngày 13/3/2011. Hiện nay, cháu Phạm Thái T đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết quyền nuôi dưỡng. Cháu Bảo T hiện đang sống cùng với bà, sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi cháu Bảo T, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung; Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng bị đơn là ông Phạm Việt T trình bày như sau: Ông và bà Thái Thị H quen biết, sau đó tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn năm 2003. Quá trình chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Ông và bà T đã sống ly thân khoảng 06 tháng. Đối với yêu cầu ly hôn của bà H ông không đồng ý.

Về con chung: Có 02 (hai) con chung là Phạm Thái T (nam) sinh ngày 27/6/2004 và Phạm Thái Bảo T (nữ) sinh ngày 13/3/2011. Hiện nay, cháu Phạm Thái T đã trưởng thành nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết quyền nuôi dưỡng. Cháu Bảo T hiện đang sống cùng với bà H, nếu Tòa án giải quyết cho bà H ly hôn với ông thì ông đồng ý để bà H được nuôi cháu Bảo T, ông không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung; Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Bà H, ông T vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật, đảm bảo đúng về thời hạn cũng như trình tự thủ tục. Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Thái Thị H đối với ông Phạm Việt T; Về con chung: Giao cháu Phạm Thái Bảo T cho bà H nuôi dưỡng, bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nên ông T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Thái Thị H và ông Phạm Việt T do phát sinh mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân và gia đình mà không thể hàn gắn tình cảm được nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông T. Ông T có địa chỉ cư trú ở ấp Trường Hòa A, xã Trường Long A, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang nên theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là vụ án tranh chấp ly hôn và nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 giải quyết vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung giải quyết vụ án:

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa bà H và ông T tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Bà H cho rằng không còn thấy hạnh phúc khi sống với ông T nên yêu cầu được ly hôn. Tuy nhiên, ông T cho rằng còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn. Trong quá trình tố tụng, Thẩm phán đã động viên hai bên cho nhau cơ hội để hàn gắn nhưng bà H vẫn cương quyết ly hôn. Từ đó thấy rằng, mâu thuẫn giữa bà H và ông T đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được nữa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu được ly hôn của bà H đối với ông T.

Về con chung: Bà H và ông T khai thống nhất có 02 con chung là Phạm Thái T (nam) sinh ngày 27/6/2004 và Phạm Thái Bảo T (nữ) sinh ngày 13/3/2011. Hiện nay, cháu Phạm Thái T đã trưởng thành nên ông, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết quyền nuôi dưỡng. Cháu Bảo T hiện đang sống cùng với bà H. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung và ông T đồng ý, cháu T cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin được nuôi con chung của bà H, giao cháu Phạm Thái Bảo T (nữ) sinh ngày 13/3/2011 cho bà H nuôi dưỡng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, ông T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai có quyền cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà H, ông T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

Về án phí: Bà Thái Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng.

. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 267, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị H đối với ông Phạm Việt T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Thái Thị H được ly hôn với ông Phạm Việt T.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Thái Bảo T (nữ) sinh ngày 13/3/2011 cho bà Thái Thị H nuôi dưỡng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Bà Thái Thị H không yêu cầu ông Phạm Việt T cấp dưỡng nuôi con chung nên ông T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai có quyền cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

4. Về án phí: Bà Thái Thị H phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai số 0002003 ngày 04 tháng 4 năm 2023 của Chi cục T hành án dân sự huyện Châu Thành A thành tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà H đã nộp xong án phí.

5. Nguyên đơn là bà Thái Thị H và bị đơn là ông Phạm Việt T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp Bản án được Thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ