- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Th và anh Đ"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Lê Thị Th và anh Nguyễn Bá Đ.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 104/2023/HNGĐ-ST Ngày 15-12-2023 V/v: Ly hôn giữa chị Th và anh Đ. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Chuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đăng Tuấn
2. Bà Vũ Thị Khánh Hòa
- Thư ký phiên tòa: bà Doãn Thị Thu Hiền là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà tham gia phiên tòa: ông Lê Quang Hưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 15-12-2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 254/2023/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2023/QĐ-HNGĐ ngày 30-11-2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Lê Thị Th, sinh năm 1990 Địa chỉ: thôn Tr, xã K, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; có đơn xin xử vắng mặt.
- Bị đơn: anh Nguyễn Bá Đ, sinh năm 1990 Địa chỉ: tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
(anh Đ mất tích, vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn chị Lê Thị Th trình bày:
Về hôn nhân: chị kết hôn với anh Nguyễn Bá Đ do đôi bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở Uỷ ban nhân dân (Viết tắt là UBND) thị trấn H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vào ngày 03-01-2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8-2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau nên trong cuộc sống vợ chồng xảy ra va chạm đánh, cãi nhau. Tháng 12-2019, chị về nhà bố mẹ đẻ sinh sống tại thôn Tr, xã K, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Thời gian đầu anh Đ có gọi điện cho chị để hỏi thăm hai con. Từ tháng 10-2020, anh Đ bỏ nhà đi và đi khỏi địa phương (tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện Hưng Hà), gia đình chị đã tìm kiếm anh Đ nhưng không có tin tức gì. Chị đã làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà tuyên bố anh Đ mất tích. Ngày 25-8-2023, Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà đã ra quyết định tuyên bố anh Nguyễn Bá Đ mất tích. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và Đạt không còn, chị đề nghị Tòa án nhân dân ( Viết tắt là TAND) huyện Hưng Hà giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ.
Về nuôi con chung: chị và anh Đ có 02 con chung là Nguyễn Bá D, sinh ngày 01-12-2013 và Nguyễn Bá Việt A, sinh ngày12-7-2017. Từ khi vợ chồng sống ly thân, hai con chung do chị trực tiếp nuôi dưỡng, nay chị xin được tiếp tục nuôi hai con chung, không yêu cầu anh Đ góp cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản: chị và anh Đ không có tài sản chung, không vay nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 05-10-2023, ông Nguyễn Bá Ngh là bố đẻ của anh Nguyễn Bá Đ trình bày: anh Đ (con trai ông) và chị Lê Thị Th kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vào năm 2023. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh Đ, chị Th sống hòa thuận tại gia đình ông ở tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện Hưng Hà đến tháng 8-2019 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp dẫn đến vợ chồng xảy ra va chạm đánh cãi nhau. Tháng 12-2019, chị Th về nhà bố mẹ ở thôn Trung Thôn 2, xã Kim Trung, huyện Hưng Hà sinh sống. Tháng10-2020, anh Đ bỏ đi khỏi địa phương, gia đình ông đã tìm kiếm anh Đ nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì của anh Đ. Ngày 25-8-2023, TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã ra quyết định tuyên bố anh Nguyễn Bá Đ mất tích. Nay chị Th có đơn khởi kiện ly hôn anh Đ, ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị Th, anh Đ có hai con chung là Nguyễn Bá D, sinh ngày 01-12-2013 và Nguyễn Bá Việt A, sinh ngày12-7-2017. Ông đề nghị Tòa án giải quyết để chị Th trực tiếp nuôi hai con chung. Vợ chồng anh Đ, chị Th không có tài sản chung, không vay nợ ai.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 05-10-2023, cháu Nguyễn Bá D là con chung của anh Đ, chị Th trình bày: nếu bố mẹ cháu ly hôn, nguyện vọng của cháu xin được ở với mẹ.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; do bị đơn là anh Đ mất tích nên đề nghị Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh Đ.
- Về giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 2 Điều 68 của Bộ luật Dân sự; căn cứ khoản 1 Điều 51 khoản 2 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Về hôn nhân: xử cho chị Th được ly hôn anh Đ; về nuôi con chung: giao cho chị Th trực tiếp nuôi hai con chung là Nguyễn Bá D, sinh ngày 01-12-2013 và Nguyễn Bá Việt A, sinh ngày12-7-2017, anh Đ không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị Th; về chia tài sản: không xem xét giải quyết. Chị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: chị Lê Thị Th khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung với anh Nguyễn Bá Đ. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. Nơi cư trú cuối cùng của anh Đ trước khi mất tích là tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án đối với anh Đ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Th có đơn đề nghị giải quyết và xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị Th, anh Đ theo quy định tại khoản khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: chị Lê Thị Th và anh Nguyễn Bá Đ kết hôn với nhau do đôi bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND thị trấn H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vào ngày 03-01-2013 nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, chị Th và anh Đ đã sống ly thân từ tháng 12-2019. Tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2023/QĐST-VDS ngày 25-8-2023 của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã tuyên bố anh Nguyễn Bá Đ mất tích. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, anh Nguyễn Bá Đ vẫn không có mặt tại địa phương. Xét thấy anh Đ đã mất tích, cần xử cho ly hôn giữa chị Th và anh Đ là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 68 của Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: chị Th và anh Đ có hai con chung là Nguyễn Bá D, sinh ngày 01-12-2013 và Nguyễn Bá Việt A, sinh ngày12-7-2017. Từ khi anh Đ bỏ đi, chị Th là người trực tiếp nuôi hai con chung, vẫn đảm bảo cuộc sống tốt về mọi mặt của con, cháu D nguyện vọng ở với mẹ; hiện nay anh Đ mất tích nên cần giao hai con chung cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng và chấp nhận sự tự nguyện của chị Th không yêu cầu anh Đ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về chia tài sản: chị Th trình bày, chị và anh Đ không có tài sản chung, nhưng vì hiện nay anh Đ mất tích nên không có căn cứ để giải quyết quan hệ tài sản chung của chị Th và anh Đ.
Về án phí: chị Th phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 2 Điều 68 của Bộ luật Dân sự; căn cứ khoản 1 Điều 51 khoản 2 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Lê Thị Th và anh Nguyễn Bá Đ.
2. Về nuôi con chung: giao cho chị Lê Thị Th trực tiếp nuôi hai con chung là Nguyễn Bá D, sinh ngày 01-12-2013 và Nguyễn Bá Việt A, sinh ngày12-7-2017, anh Đ không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị Th. Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về chia tài sản: không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: chị Lê Thị Th phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Th đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004322 ngày 04-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà (chị Th đã nộp đủ tiền án phí).
5. Chị Lê Thị Th có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Nguyễn Bá Đ vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND cùng cấp; - VKSND tỉnh Thái Bình - Chi cục THADS cùng cấp; - Các đương sự; - UBND thị trấn H; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Chuyên |