vanban.org

Bản án 104/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn Tr

Xác định cháu Nguyễn Minh Tuệ, sinh ngày 23/10/2018 và cháu Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 05/10/2021 là con đẻ của anh Phạm Văn Tr, sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn H Ph, xã Qu H, huyện Qu Tr, tỉnh Quảng Bình. Khi các bên có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con, Tòa án sẽ giải quyết bằng một vụ án khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "bản án hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn Tr
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MINH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 104/2023/HNGĐ- ST
Ngày: 15/12/2023
“V/v tranh chấp xác định con cho cha”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Ngọc Nhân

Ông Đinh Hồng Sâm

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phan Quang Phú – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2023 tại Toà án nhân dân huyện Minh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2023/TLST - HNGĐ ngày 26/10/2023 về việc “tranh chấp xác định con cho cha” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 30/11/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Phạm Văn Tr, sinh năm 1989

Trú tại: Thôn H Ph, xã Qu H, huyện Qu Tr, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1993

Trú tại: Thôn L H, xã Tr H, huyện M H, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 13/10/2023 và bản tự khai ngày 28/11/2023, anh Phạm Văn Tr trình bày: Từ ngày 29/5/2018 đến trước ngày 07/02/2020, anh và chị Nguyễn Thị Hồng H là vợ chồng hợp pháp, từ ngày 07/02/2020 anh và chị H chung sống như vợ chồng tại gia đình anh ở xóm 4, thôn H Ph, xã Qu H, huyện Qu Tr, tỉnh Quảng Bình và giữa anh và chị H có với nhau 02 người con chung là cháu Nguyễn Minh T, sinh ngày 23/10/2018 và cháu Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 05/10/2021 nhưng trong các giấy tờ liên quan của các cháu không thể hiện anh Tr là cha đẻ của các cháu và chị H cũng không công nhận anh là cha đẻ của cháu Minh T và cháu Ngọc A. Từ khi sinh ra đến lớn lên anh vẫn chăm sóc các cháu, hiện nay các cháu đang ở với anh. Anh Tr không biết thông tin và không có bất cứ giấy tờ tùy thân gì của các cháu, mà chỉ xin được bản sao giấy khai sinh của cháu Nguyễn Minh T do UBND xã Tr H cung cấp. Đến khi chị H kiện anh ở cơ quan điều tra anh mới biết cháu Minh T và cháu Ngọc A không mang họ của anh. Anh Tr đã trưng cầu cơ quan chức năng giám định ADN giữa anh và các cháu Minh T, Ngọc A, kết quả của cơ quan giám định xác định anh và các cháu Minh T, Ngọc A là cùng huyết thống. Vì vậy anh đề nghị Tòa án giải quyết xác định các cháu Nguyễn Minh T, sinh ngày 23/10/2018 và cháu Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 05/10/2021 là con đẻ của anh Phạm Văn Tr để đảm bảo quyền lợi của các cháu và quyền lợi, nghĩa vụ của anh đối với các con của anh.

Tại bản tự khai và biên bản hòa giải ngày 28/11/2023, chị Nguyễn Thị Hồng H trình bày: Từ ngày 29/5/2018 đến trước ngày 07/02/2020, chị và anh Phạm Văn Tr là vợ chồng hợp pháp, từ ngày 07/02/2020 đến nay chị và anh Tr không có mối quan hệ nào khác, anh Tr đi đâu, làm gì chị không biết. Chị H có 02 người con là cháu Nguyễn Minh T, sinh ngày 23/10/2018 và cháu Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 05/10/2021, hai cháu được sinh ra và lớn lên cùng mẹ tại thôn L H, xã Tr H, huyện M H, tỉnh Quảng Bình. Cháu T được sinh ra trong thời kì hôn nhân giữa chị và anh Tr nhưng anh Tr không quan tâm, không nhận cháu là con do chị có bầu trước khi kết hôn nên không cho chị ghi tên anh Tr là cha của cháu T trong giấy khai sinh, thủ tục khai sinh của cháu là do mẹ đẻ của chị đi khai sinh. Đến thời điểm chị H và anh Tr ly hôn vào năm 2020, anh Tr vẫn không nhận con, giao con cho chị nuôi, không chu cấp nuôi con, trong quyết định công nhận ly hôn của Tòa án đã xác định chị H và anh Tr không có con chung. Cháu A được sinh ra khi chị H và anh Tr đã ly hôn nên cháu không có quan hệ pháp lý với anh Tr. Hiện nay, anh Tr đang giữ trái phép hai con gái của chị. Chị H không đồng ý với việc nhận con của anh Tr.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa phát biểu đối với Thẩm phán và Thư ký quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 89, Điều 91 luật hôn nhân và gia đình xử xác nhận các cháu Nguyễn Minh T, sinh ngày 23/10/2018 và cháu Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 05/10/2021 là con đẻ của anh Phạm Văn Tr.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về việc xác định con cho cha. Căn cứ khoản 4 Điều 28, khoản 1 Điều 35 bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa.

Xét yêu cầu xác định con cho cha của anh Phạm Văn Tr: Từ ngày 29/5/2018 đến trước ngày 07/02/2020, anh Phạm Văn Tr và chị Nguyễn Thị Hồng H là vợ chồng hợp pháp. Cháu Nguyễn Minh T, sinh ngày 23/10/2018 được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa anh Tr và chị H.

Ngày 08/02/2020, anh Phạm Văn Tr và chị Nguyễn Thị Hồng H không còn là vợ chồng hợp pháp, đã ly hôn thể hiện bằng quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 07/2020/QĐST-HNGĐ ngày 07/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa. Trong quyết định, phần con chung ghi không có.

Cháu Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 05/10/2021 được sinh ra khi chị H đã ly hôn với anh Tr.

Tuy nhiên, do khẳng định 02 cháu là con đẻ của mình nên anh Tr đã giám định ADN giữa anh và các cháu Nguyễn Minh T, Nguyễn Ngọc A.

Theo kết quả giám định ADN số 231805.1IG/DNA ngày 17/10/2023 của công ty TNHH Đầu tư và công nghệ Genplus kết luận: Phạm Văn Tr; giới tính: Nam; ngày sinh: 07/7/1989; số CCCD: xxxxxxxxxx..; quốc tịch: Việt Nam có quan hệ huyết thống bố - con với Nguyễn Minh T, sinh ngày 23/10/2018; giới tính: Nữ; giấy khai sinh bản sao số: 217/GKS-BS ngày cấp: 08/9/2023; nơi cấp: UBND xã Tr H, huyện M H, tỉnh Quảng Bình.

Theo kết quả giám định ADN số 231805.2IG/DNA ngày 17/10/2023 của công ty TNHH Đầu tư và công nghệ Genplus kết luận: Phạm Văn Tr; giới tính: Nam; ngày sinh: 07/7/1989; số CCCD: xxxxxxxxxx..; quốc tịch: Việt Nam có quan hệ huyết thống bố - con với Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 05/10/2021.

Từ phân tích nêu trên, căn cứ vào Điều 88, Điều 89, Điều 91, Điều 101, Điều 102 luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn Tr, xác định cháu Nguyễn Minh T, sinh ngày 23/10/2018 và cháu Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 05/10/2021 là con đẻ của anh Phạm Văn Tr.

Án phí: Yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn Tr được chấp nhận nên bị đơn là chị Nguyễn Thị Hồng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 88, Điều 89, Điều 91, Điều 101, Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn Tr

1. Xác định cháu Nguyễn Minh Tuệ, sinh ngày 23/10/2018 và cháu Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 05/10/2021 là con đẻ của anh Phạm Văn Tr, sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn H Ph, xã Qu H, huyện Qu Tr, tỉnh Quảng Bình.

Khi các bên có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con, Tòa án sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

2. Án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai, có mặt nguyên đơn, bị đơn. Tuyên bố nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ( ngày 15/12/2023).

Cỡ chữ