vanban.org

Bản án 104/2022/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 26/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Ngviang Thy B (Nguyễn Thị B) phạm tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”;

Áp dụng: khoản 1 Điều 348, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Ngviang Thy B (Nguyễn Thị B) 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 07/01/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo: Nguyễn Thị Bit - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (điều 348 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Ngviang Thy B (Nguyễn Thị B) phạm tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2022/HS-ST
Ngày: 26 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Thắng Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Thủy

Ông Trần Văn Sinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thanh Hương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đinh Xuân Bình – Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2022/HSST ngày 09 tháng 6 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2022, đối với bị cáo:

Ngviang Thy B- tên phiên âm tiếng Việt là: Nguyễn Thị B; Binh ngày: 05/6/1975, tại tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKNKTT: xã Ch, huyện Ch, tỉnh K, Campuchia; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: không; con ông Nguyễn Văn Kh (đã chết) và bà Nguyễn Thị Nh (đã chết); có chồng là Lê Văn Đ và có 03 con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: chưa; bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 07/01/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

+ Chị N, sinh năm 2003 và chị L, sinh năm 2004; đều trú tại: Ấp D, xã B, huyện C, tỉnh K, Campuchia; vắng mặt.

+ Anh Dư Xuân M, sinh năm 1978; HKTT: thôn K xã Đ, huyện Ư, thành phố Hà Nội; hiện trú tại: số 663, đường L, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ, ngày 21/12/2021, tại Trạm kiểm soát liên hợp Km 15- Bến tàu Dân Tiến thuộc thôn 6, xã Hải Tiến, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, Tổ công tác của Công an thành phố Móng Cái phát hiện xe ô tô biển kiểm soát: 30E-406.51 do anh Dư Xuân M (Binh năm: 1978, trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện Ư, thành phố Hà Nội) điều khiển, trên xe chở Nguyễn Thị B, cùng 2 người phụ nữ quốc tịch Campuchia gồm: L (sinh năm 2003) và N (sinh năm 2004) đều trú tại: Ấp P, xã B, huyện Ch, tỉnh K, Campuchia. Tại thời điểm kiểm tra cả 03 người phụ nữ trên đều không có giấy phép nhập cảnh vào Việt Nam theo quy định.

Quá trình điều tra xác định hành vi phạm tội của bị can như Bau:

Năm 2019, L, N lấy chồng và sinh sống tại Trung Quốc sau đó quay về Campuchia để thăm gia đình. Đến tháng 12 năm 2021, N và L muốn quay lại Trung Quốc để đoàn tụ với chồng nhưng do dịch bệnh Covid 19 diễn biến phức tạp việc xuất nhập cảnh vào Trung Quốc khó khăn nên N đã liên hệ với người tên L1 (không rõ lai lịch, địa chỉ, đang sinh sống tại Trung Quốc) để tìm người đưa N và L từ Campuchia sang Trung Quốc. L1 hướng dẫn tìm 01 người biết tiếng Việt Nam thuê họ đưa dẫn từ Campuchia vào Móng Cái, Quảng Ninh, Việt Nam rồi L1 sẽ tiếp tục bố trí người đón để xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc. Qua tìm hiểu N biết Nguyễn Thị B là người Việt Nam sinh sống tại Campuchia biết nói tiếng Việt nên đã tìm gặp B đặt vấn đề thuê B dẫn L và N nhập cảnh trái phép từ Campuchia đến Móng Cái, Quảng Ninh, Việt Nam thì được N và L trả công 1000 USD, B đồng ý. Trưa ngày 12/12/2021, tại chợ M, tỉnh D, Campuchia, N đưa trước cho B 200 USD để chi phí đi đường. Sau đó, B dẫn N và L đi theo đường mòn nhập cảnh trái phép vào Việt Nam qua khu vực biên giới tỉnh Tây Ninh rồi cả 3 bắt xe khách đi đến thành phố Hà Nội. Ngày 14/12/2021, khi đến thành phố Hà Nội, B thuê nhà trọ của chị Phạm Thị Nh (sinh năm 1977, tại địa chỉ: số 663, phường L, quân H, thành phố Hà Nội) để ở và chờ L1 bảo ra Móng Cái thì cả nhóm sẽ di chuyển. B đã liên hệ với L1 và nhờ số tài khoản của chị Nh để L1 chuyển 14.871.000 đồng vào tài khoản chị Nh để chi tiêu sinh hoạt cho cả nhóm. Ngày 21/12/2021, B thuê xe ô tô của anh Dư Xuân M (chồng chị Nh ) chở mọi người ra Móng Cái. Khi xe ô tô đến Trạm kiểm soát liên hợp Km 15- Bến tàu Dân Tiến, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh thì bị Công an phát hiện, bắt giữ.

Tại bản cáo trạng số: 79/CT-VKBQN-P1 ngày 08/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Ngviang Thy B (Nguyễn Thị B) về tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”, theo khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố, thừa nhận việc khởi tố, truy tố và xét xử đúng người đúng tội, xin giảm nhẹ hình phạt.

Người làm chứng chị N và L vắng mặt có lời khai: N và L lấy chồng và sinh sống tại Trung Quốc, sau đó quay về Campuchia để thăm gia đình. Đến tháng 12 năm 2021, N và L muốn quay lại Trung Quốc để đoàn tụ với chồng nhưng do dịch bệnh Covid 19 diễn biến phức tạp việc xuất nhập cảnh vào Trung Quốc khó khăn nên N đã liên hệ với người tên L1 (không rõ lai lịch, địa chỉ, đang Sinh sống tại Trung Quốc) để tìm người đưa N và L từ Campuchia sang Trung Quốc. L1 hướng dẫn tìm 01 người biết tiếng Việt Nam thuê họ đưa dẫn từ Campuchia vào Móng Cái, Quảng Ninh, Việt Nam rồi L1 sẽ tiếp tục bố trí người đón để xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc. Qua tìm hiểu N biết Nguyễn Thị B là người Việt Nam Sinh sống tại Campuchia biết nói tiếng Việt nên đã tìm gặp B đặt vấn đề thuê B dẫn L và N nhập cảnh trái phép từ Campuchia đến Móng Cái, Quảng Ninh, Việt Nam thì được N và L trả công 1000 USD, B đồng ý. Trưa ngày 12/12/2021, tại chợ M, tỉnh D, Campuchia, N đưa trước cho B 200 USD để chi phí đi đường. Bau đó, B dẫn N và L đi theo đường mòn nhập cảnh trái phép vào Việt Nam qua khu vực biên giới tỉnh Tây Ninh rồi cả 3 bắt xe khách đi đến thành phố Hà Nội. Ngày 14/12/2021, khi đến thành phố Hà Nội, B thuê nhà trọ tại địa chỉ: số 663, phường L, quân H, thành phố Hà Nội) để ở và chờ L1 bảo ra Móng Cái thì cả nhóm sẽ di chuyển. Ngày 21/12/2021, mọi người ra Móng Cái đến Trạm kiểm soát liên hợp Km 15- Bến tàu Dân Tiến, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh thì bị Công an phát hiện, bắt giữ.

Người làm chứng anh Dư Xuân M khai: 14 giờ 30 phút ngày 14/12/2021, anh được một người phụ nữ tên B gọi đến nhà nghỉ Phương Thảo ở số nhà 33, L, H, Hà Nội chở B và hai người phụ nữ đi Móng Cái với giá 4.000.000đ. Khi xe ô tô đến Trạm kiểm Boát liên hợp Km 15- Bến tàu Dân Tiến, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh thì bị Công an phát hiện, bắt giữ.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quyết định truy tố, đại diện Viện kiểm sát phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư và đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt: bị cáo Ngviang Thy B (Nguyễn Thị B) từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.

Xử lý vật chứng: đề nghị HĐXX xử lý vật chứng theo quy định, cụ thể: điện thoại thu giữ của bị cáo tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, 01 thẻ thường trú do Bộ Nội vụ Vương quốc Campuchia cấp cho Ngviang Thy B (Nguyễn Thị B) trả lại cho bị cáo.

Bị cáo không tranh luận đối đáp gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ Bở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

-Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh Bát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

-Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Ngviang Thy B (Nguyễn Thị B) đều khai nhận hành vi phạm tội; lời khai của bị cáo phù hợp người làm chứng N và L, người làm chứng Dư Xuân M; phù hợp Biên bản kiểm tra hành chính của Trạm kiểm soát liên hợp Km15- Bến tàu Dân Tiến lập hồi 20 giời 30 phút ngày 21/12/2021; phù hợp biên bản xác định vị trí, biên bản xác định hiện trường và cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp nội dung bản cáo trạng số: 79/CT-VKBQN-P1 ngày 08/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, thấy có đủ cơ sở kết luận:

Từ ngày 12 đến ngày 14/12/2021, theo thỏa thuận từ trước giữa Nguyễn Thị B và P, người Camphuchia, Nguyễn Thị B đã dẫn N và L từ Campuchia nhập cảnh trái phép vào Việt Nam qua khu vực biên giới tỉnh Tây Ninh đến thành phố Hà Nội. N và L hứa trả công cho Nguyễn Thị B 1000 USD. Đến ngày 21/12/2021, Nguyễn Thị B thuê xe ô tô chở N và L từ thành phố Hà Nội đến Trạm kiểm soát liên hợp Km 15- Bến tàu Dân Tiến, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh thì bị Công an phát hiện, bắt giữ.

Hành vi của bị cáo Ngviang Thy B (Nguyễn Thị B) phạm tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”, theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

- Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất nhập cảnh của Nhà nước, gây mất ổn định xã hội địa phương, nhất là khu vực biên giới. Bị cáo là người nhận thức được hành vi tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép là vi phạm pháp luật, nhưng vì hám lợi mà vẫn cố ý thực hiện. Chính vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần trừng trị thích đáng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4-Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo chưa tiền án tiền sự thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 4 Điều 348 Bộ luật Hình sự, thì bị cáo có thể bị phạt tiền. Xét thấy: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

- Đối với N và L người Vương quốc Campuchia đã bị Công an tỉnh Quảng Ninh ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi: Nhập cảnh trái phép và bàn giao cho Đại sứ quán Vương quốc Campuchia trục xuất về nước.

- Về vật chứng: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu giữ của bị cáo, là phương tiện phạm tội, nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; 01 thẻ thường trú do Bộ Nội vụ Vương quốc Campuchia cấp cho Ngviang Thy B (Nguyễn Thị B) không liên quan đến việc phạm tội trả lại cho bị cáo.

- Về án phí, quyền kháng cáo: bị cáo phải chịu án phí hình Bự Bơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Ngviang Thy B (Nguyễn Thị B) phạm tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”;

Áp dụng: khoản 1 Điều 348, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Ngviang Thy B (Nguyễn Thị B) 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 07/01/2022.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh thu giữ của bị cáo.

Trả lại bị cáo: 01 thẻ thường trú số thẻ 063811 do Bộ Nội vụ Vương quốc Campuchia cấp cho Ngviang Thy B (Nguyễn Thị B).

Tịch thu tiêu hủy một Bim điện thoại trong điện thoại di động nhãn hiệu OPPO (nếu có)

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 109 ngày 13/6/2022, giữa Công an tỉnh Quảng Ninh và Cục Thi hành án dân Bự tỉnh Quảng Ninh).

Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết Bố 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Ngviang Thy B (Nguyễn Thị B) phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ