vanban.org

Bản án 104/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tạm giam bị cáo: Võ Hùng S, sinh năm 1989; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 127/54 Lê Thúc Hoạch, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định.

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Võ Hùng S bị Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố về tội "Cướp giật tài sản" theo khoản 2 Điều 171 của BLHS - phạm tội cướp giật tà…"
  • Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo: Võ Hùng S, sinh năm 1989; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 127/54 Lê Thúc Hoạch, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2022/HS-ST
Ngày 30/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lâm Ngọc Minh;

2. Bà Nguyễn Lê Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Nguyên Đán - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại Phòng xử A trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Võ Hùng S; sinh ngày 15/02/1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: đường L, phường P, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Bá T và bà Nguyễn Thị L; có vợ và có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án: Không có;

Tiền sự: Ngày 25/03/2019, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng theo Quyết định số 342/2019/QĐ-TA ngày 19/6/2019.

Nhân thân:

- Ngày 21/12/2005, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 67/2006/HSST ngày 20/04/2006 (Đã chấp hành xong bản án);

- Ngày 02/04/2008, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 130/2008/HSST ngày 20/8/2008 (Đã chấp hành xong bản án);

- Ngày 11/10/2011, bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 17/2012/HSST ngày 10/02/2012 (Đã chấp hành xong bản án);

Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/6/2022; có mặt.

- Bị hại: Chị Trần Thụy Quỳnh N, sinh năm 1996; địa chỉ: đường L, phường Tân Thới Hòa, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Trần Thị H, sinh năm 1967; địa chỉ: đường L, Phường 13, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt;

2. Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn N (viết tắt là “Công ty tài chính F”); địa chỉ: Tòa nhà R, số đường Đ, Phường 13, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện hợp pháp: Ông Châu Thanh P, sinh năm 1982 – Là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 07/11/2022); Ông P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt N sau:

Vào lúc 15 giờ 45 phút ngày 26/6/2022, Võ Hùng S điều khiển xe mô tô biển số: 59E1-512.96 lưu thông trên đường Bình Thới, Phường 11, Quận 11. Lúc này S nhìn thấy chị Trần Thụy Quỳnh N đang dừng xe cùng chiều trước số 107 đường Bình Thới, Phường 11, Quận 11 (hướng về vòng xoay Lê Đại Hành) sử dụng điện thoại di động nên nảy sinh ý định cướp giật. S điều khiển xe áp sát bên trái chị N rồi dùng tay phải giật máy điện thoại di động hiệu Iphone 13 ProMax của chị N rồi nhanh chóng tăng ga tẩu thoát về hướng vòng xoay Lê Đại Hành. Chị N dùng xe truy đuổi theo xe của S liên tục. Khi đến trước số 335 đường Lê Đại Hành, Phường 11, Quận 11, chị N điều khiển xe tông vào xe của S làm cả hai té ngã. S bỏ lại xe chạy bộ sang phần đường Lê Đại Hành thuộc Phường 15, Quận 11 thì một số người dân trông thấy sự việc, đuổi theo và bắt giữ được S cùng vật chứng đưa về trụ sở Công an Phường 11, Quận 11 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy. Võ Hùng S dương tính với chất ma túy dạng Amphetamine và Methamphetamine. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, Võ Hùng S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 85/KL-HĐĐGTS ngày 30/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 11 kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 ProMax đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 26/6/2022 có giá trị là 27.430.000 đồng.

Vật chứng, tài sản thu giữ trong vụ án:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, dung lượng 128Gb, màu vàng. Đây là tài sản bị cáo S chiếm đoạt của chị Trần Thụy Quỳnh N. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chị N.

- 01 áo khoác sậm màu, mặt sau áo có chữ ADIDAS màu trắng; 01 chiếc dép trái màu đen; 01 nón bảo hiểm màu trắng có in hình Đoraemon. Đây là trang phục bị cáo S mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung A6 màu bạc. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo S.

- 01 biển số xe mang số 59E1-512.96 gắn trên xe Honda Vario.

- 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Vario màu trắng có số khung: MH1JM5114MK884395, số máy: JM51E-1883523, gắn biển số: 59E1 – 51296. Đây là phương tiện bị cáo S sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Tiến hành giám định số khung, số máy của xe không thay đổi. S khai nhận mua trả góp xe hiệu Honda Vario màu trắng tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên H - Chi nhánh 3 (viết tắt là “Công ty H”), địa chỉ số tỉnh lộ , phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 74.900.000 đồng, S đã trả trước 22.500.000 đồng. S được Công ty Tài chính FE Credit cho vay thế chấp số tiền 52.400.000 đồng mua xe và tiền mua bảo hiểm nợ tín dụng là 2.620.000 đồng, tổng cộng Công ty Tài chính cho Võ Hùng S vay số tiền là 55.020.000 đồng. Công ty H - Chi nhánh 3 hỗ trợ tạm ứng trước số tiền làm dịch vụ là 3.750.000 đồng. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên H đã có văn bản gửi Tòa án xin rút yêu cầu buộc bị cáo S trả số tiền 3.750.000 đồng.

Đại diện theo ủy quyền của Công ty Tài chính F, ông Châu Thanh P trình bày: Xe máy hiệu Honda Vario màu trắng có số khung: MH1JM5114MK884395, số máy: JM51E-1883523 do Võ Hùng S mua bằng tiền vay trả góp của Công ty Tài chính F và chưa làm thủ tục sang tên sở hữu. Số tiền S mua xe còn nợ Công ty là 55.020.000 đồng. Bị cáo S đã sử dụng xe trên để làm phương tiện phạm tội. Nay Công ty Tài chính F yêu cầu bị cáo Võ Hùng S thanh toán cho Công ty số tiền còn nợ là 55.020.000 đồng hoặc Công ty nhận lại tài sản là xe Honda Vario bị cáo S đã thế chấp cho Công ty Tài chính để tiến hành thanh lý xe thu hồi khoản nợ.

Bản cáo trạng số 100/CT-VKSQ11 ngày 16 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo Võ Hùng S tội danh “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo S có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị: Mức hình phạt đối với bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; đồng thời đề nghị hướng xử lý vật chứng N sau:

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 áo khoác sậm màu, mặt sau áo có chữ ADIDAS màu trắng; 01 chiếc dép trái màu đen; 01 nón bảo hiểm màu trắng có in hình Đoraemon;

- Trả lại cho bị cáo S: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A6 màu bạc; giao biển số xe máy 59E1-512.96 cho Công an Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra làm rõ việc mất trộm xe máy;

- Giao 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Vario màu trắng cho Công ty Tài chính F tiến hành phát mãi bán đấu giá để thu hồi số tiền mà Công ty đã cho bị cáo S vay, sau khi thu hồi xong nợ vay và trừ các chi phí, số tiền còn lại (nếu có) thì nộp lại cho Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo S đồng ý giao xe trên cho Công ty Tài chính F để xử lý thu hồi nợ theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định N sau:

1. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các tang vật thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở để xác định:

Vào lúc 15 giờ 45 phút ngày 26/6/2022, tại trước nhà số 107 đường Bình Thới, Phường 11, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Võ Hùng S đã sử dụng xe môtô gắn biển số 59E1- 512.96 làm phương tiện thực hiện hành vi cướp giật 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax đã qua sử dụng, trị giá 27.430.000 đồng của chị Trần Thụy Quỳnh N rồi điều khiển xe bỏ chạy.

Bị cáo bằng thủ đoạn công khai, nhanh chóng, bất ngờ chiếm đoạt tài sản của người khác rồi tẩu thoát. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, theo quy định của pháp luật thì hành vi dùng môtô, xe máy để thực hiện việc cướp giật tài sản là tình tiết “dùng thủ đoạn nguy hiểm” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật Nng vì tư lợi, lười lao động bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo dùng phương tiện mô tô, xe máy cướp giật tài sản của người đi đường không chỉ làm mất an ninh, trật tự công cộng, gây thiệt hại về tài sản mà còn có thể gây ra tai nạn cho người bị hại, những người tham gia giao thông. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, dung lượng 128Gb, màu vàng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận 11 đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại điện thoại nêu trên cho chủ sở hữu là chị Trần Thụy Quỳnh N. Chị N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét;

- 01 áo khoác sậm màu, mặt sau áo có chữ ADIDAS màu trắng; 01 chiếc dép trái màu đen; 01 nón bảo hiểm màu trắng có in hình Đoraemon là trang phục bị cáo S sử dụng để thực hiện hành vi cướp giật tài sản; tài sản trên không còn giá trị sử dụng và bị cáo S không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu và tiêu hủy;

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung A6 màu bạc. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo S không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo;

- 01 biển số xe 59E1-512.96 gắn trên xe Honda Vario. Bị cáo S khai do xe chưa làm thủ tục đăng ký cấp biển số nên S gắn biển số 59E1-512.96 nhặt được từ trước để sử dụng xe Honda Vario. Tiến hành xác minh biển số: 59E1- 512.96 do bà Trần Thị H là chủ sở hữu. Qua làm việc, bà H cho biết, vào năm 2014 bà H có mua và đứng tên xe dùm người cháu dâu tên Huỳnh Thị Kim P. Tiến hành làm việc chị P được biết, chị nhờ cô chồng là Trần Thị H đứng tên dùm xe môtô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển số 59E1 – 512.96. Vào ngày 08/9/2021, chồng chị P là anh Trần Hoàng T sử dụng xe môtô trên để đi làm thì bị mất trộm. Do mất xe trong thời điểm dịch Covid – 19 bùng phát nên anh T không trình báo việc mất xe với Công an. Bà Trần Thị H có yêu cầu nhận lại biển số xe 59E1-512.96, đây là tài sản thuộc sở hữu của bà H nên trả lại biển số xe trên cho bà H.

- 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Vario màu trắng có số khung: MH1JM5114MK884395, số máy: JM51E-1883523, đây là phương tiện Võ Hùng S sử dụng để cướp giật tài sản. Qua xác minh, xe môtô trên do bị cáo S mua trả góp vào ngày 02/12/2021 tại Công ty H, địa chỉ số đường Tỉnh lộ , phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 74.900.000 đồng, đã trả trước 22.500.000 đồng. S được Công ty Tài chính F cho vay thế chấp số tiền 52.400.000 đồng mua xe và tiền mua bảo hiểm nợ tín dụng là 2.620.000 đồng, tổng cộng Công ty Tài chính cho Võ Hùng S vay số tiền là 55.020.000 đồng, xe chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Bị cáo S là người trực tiếp ký kết các hợp đồng vay tiền trả góp số tiền 55.020.000 đồng (chưa lãi) với Công ty Tài chính F. Theo đó số tiền mà S phải trả góp cho Công ty là 4.259.000 đồng/tháng. Từ khi nhận xe bị cáo S chưa trả khoản tiền góp mua xe nào cho Công ty Tài chính F và cũng không tiến hành làm thủ tục đăng ký sở hữu đối với xe trên. Bị cáo S còn nợ lại Công ty Tài chính F số tiền là 55.020.000 đồng.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì: Công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội bị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, chiếc xe trên bị cáo S đã thế chấp cho Công ty Tài chính F để vay tiền mua xe. Theo quy định tại Điều 14 của Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc Hội thì: “...xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm hoàn trả vật chứng trong vụ án hình sự là tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo đề nghị của bên nhận bảo đảm là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu”. Vì vậy, việc Công ty Tài chính F đề nghị giao chiếc xe Honda Vario màu trắng có số khung: MH1JM5114MK884395, số máy: JM51E-1883523 cho Công ty Tài chính F để phát mãi đấu giá lấy tiền thanh toán cho khoản vay mua xe của bị cáo S là có cở sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó, giao xe máy hiệu Honda Vario màu trắng có số khung: MH1JM5114MK884395, số máy: JM51E-1883523 cho Công ty Tài chính F để tiến hành phát mãi bán đấu giá để thu hồi số tiền mà Công ty đã cho bị cáo S vay, sau khi thu hồi xong nợ vay và trừ các chi phí, số tiền còn lại (nếu có) thì nộp lại cho Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

2. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 50; điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Tuyên bố bị cáo Võ Hùng S phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Võ Hùng S 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2022.

Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) áo khoác sậm màu, sau áo có chữ ADIDAS màu trắng; 01 (một) chiếc dép trái màu đen; 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng có in hình Đoraemon;

- Trả lại cho bị cáo Võ Hùng S: 01 (một) máy điện thoại di động hiệu Samsung A6 màu bạc, máy đã qua sử dụng;

- Trả lại cho bà Trần Thị H: 01 biển kiểm soát xe môtô số: 59E1 – 51296;

- Giao 01 (một) xe môtô đã qua sử dụng, nhãn hiệu Honda Vario màu trắng, số khung: MH1JM5114MK884395, số máy: JM51E-1883523 cho Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn N tiến hành phát mãi bán đấu giá để thu hồi số tiền mà Công ty Tài chính đã cho bị cáo S vay để mua xe Nng chưa trả hết. Sau khi thu hồi xong nợ vay và trừ đi các chi phí cho việc lưu trữ, bảo quản, tổ chức đấu giá, số tiền còn lại (nếu có) thì Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn N nộp lại cho Cơ quan thi hành án Quận 11 để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 61/LNK-ĐTTH ngày 30/6/2022).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- TAND - VKSND TPHCM;

(Đã ký)

- Sở Tư pháp TPHCM;

- PC 27 - CA TPHCM;

- VKSND Q.11;

- Công an Q.11;

- Chi cục THADS Q.11;

- Những người tham gia tố tụng;

Nguyễn Thanh Phúc

- Lưu hồ sơ vụ án. TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 09 giờ 15 phút, ngày 30 tháng 12 năm 2022.

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Lê Thu;

Bà Lâm Ngọc Minh.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2022, đối với:

Bị cáo Võ Hùng S; sinh năm: 1989, tại Thành phố Hồ Chí Minh;

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN N SAU:

1. Về điều luật áp dụng:

Căn cứ vào Điều 50; điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

2. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Võ Hùng S phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

3. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Võ Hùng S 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2022.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

4. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) áo khoác sậm màu, sau áo có chữ ADIDAS màu trắng; 01 (một) chiếc dép trái màu đen; 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng có in hình Đoraemon;

- Trả lại cho bị cáo Võ Hùng S: 01 (một) máy điện thoại di động hiệu Samsung A6 màu bạc, máy đã qua sử dụng;

- Trả lại cho bà Trần Thị Hoa: 01 biển kiểm soát xe môtô số: 59E1 – 51296;

- Giao 01 (một) xe môtô đã qua sử dụng, nhãn hiệu Honda Vario màu trắng, số khung: MH1JM5114MK884395, số máy: JM51E-1883523 cho Công ty Tài chính FE Credit tiến hành phát mãi bán đấu giá để thu hồi số tiền mà Công ty trách nhiệm hữu hạn FE Credit đã cho bị cáo S vay đề mua xe Nng chưa trả hết. Sau khi thu hồi xong nợ vay và trừ đi các chi phí cho việc lưu trữ, bảo quản, tổ chức đấu giá, số tiền còn lại (nếu có) thì Công ty trách nhiệm hữu hạn FE Credit nộp lại cho Cơ quan thi hành án Quận 11 để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 61/LNK-ĐTTH ngày 30/6/2022).

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

5. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

6. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 30 tháng 12 năm 2022.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Phúc TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––

–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

Số: 97/2022/HSST-QĐTG

Quận 11, ngày 30 tháng 12 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Nguyễn Lê Thu;

- Bà Lâm Ngọc Minh.

Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Biên bản nghị án ngày 30 tháng 12 năm 2022 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1

Tạm giam bị cáo: Võ Hùng S, sinh năm 1989; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 127/54 Lê Thúc Hoạch, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định.

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Thời hạn tạm giam là 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án.

Điều 2

Nhà tạm giữ Công an Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ