- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1-Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm c,g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 50; Điều 58 Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TAND HUYỆN HIỆP HÒA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 104/2022/HS-ST Ngày 27 tháng 10 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thanh Thuần
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Đức Lâm
Ông Nguyễn Xuân Trường
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Hiệp – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Đ Duy- Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 101/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 09 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2022/HSST-QĐ ngày 12 tháng 10 năm 2022 đối với các bị cáo:
1.Họ và tên: Nguyễn Văn H; sinh năm 1987;
Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam;
Nơi cư trú: thôn Danh T-1, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Tự do ; Trình độ văn hóa: lớp 01/12;
Họ tên bố: Không rõ;
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Tuyết, sinh năm 1971;
Vợ: Phan Thị Thuỳ, sinh năm 1990;
Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2020;
Bị cáo là con duy nhất trong gia Đ.
Tiền án:
- Tại Bản án số 61/2011/HSST ngày 18/8/2011 của TAND huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (trị giá tài sản trộm cắp 8.250.000 đồng). Tại Bản án số 77/2011/HSST ngày 23/8/2011 của TAND thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (trị giá tài sản trộm cắp 22.000.000 đồng). Tổng hợp hình phạt của hai Bản án là 39 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/4/2014.
- Tại Bản án số 93/2015/HSST ngày 28/5/2015 của TAND thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/5/2016 (trị giá tài sản trộm cắp 11.000.000 đồng)
- Tại Bản án số 11/2017/HSST ngày 06/3/2017 của TAND huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/6/2019 (tài sản trộm cắp 55.000.000đồng)
- Tại Bản án số 08/2020/HSST ngày 17/01/2020 của TAND huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/9/2020 (tài sản trộm cắp 800.000đồng).
- Tại Bản án số 28/2021/HSST ngày 31/3/2021 của TAND huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2022 (tài sản trộm cắp 1.235.000đồng)
Tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2022 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang ( Có mặt).
2-Họ và tên: Bùi V-A; sinh năm 1996;
Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam ;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm Đạy, xã S-H, huyện Tân Lạc, tỉnh Hoà Bình;
Nơi ở: Thôn Ngọc Liễn, xã Châu Minh, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Tự do ; Trình độ văn hóa: lớp 9/12;
Họ tên bố: Bùi Văn Liên (đã chết);
Họ tên mẹ: Bùi Thị Hiền, sinh năm 1976;
Vợ, con: Chưa có;
Gia Đ có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2022 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang ( Có mặt)
3./ Bị hại:
Anh Đồng Văn H- Sinh năm 1988 ( Có mặt);
Chị Đỗ Thị Hà- Sinh năm 1991( Có mặt)
Nơi cư trú đều ở: Thôn Châu Lỗ, xã Mai Đ, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
4./ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn T- Sinh năm 1985 ( Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Chùa, xã L-P, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 26/5/2022, anh Đồng Văn H, sinh năm 1988, trú tại thôn Châu Lỗ, xã Mai Đ, huyện Hiệp Hòa điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, màu nâu, biển kiểm soát 98L1-2817 chở vợ là chị Đỗ Thị Hà, sinh năm 1991 từ nhà đến Trung tâm văn hóa huyện Hiệp Hòa để vay số tiền 40.000.000 đồng của Hội Phụ nữ huyện Hiệp Hòa. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi nhận đủ số tiền trên, chị Hà cất tiền cùng 02 tờ giấy xác nhận đã nhận tiền vào trong Ti nilon màu vàng rồi đưa cho anh H. Sau đó, anh H móc Ti đựng tiền vào sườn xe bên phải rồi điều khiển xe chở chị Hà về Trường mầm non xã Mai Đ để chị Hà dạy học. Khi đến Trường mầm non xã Mai Đ, chị Hà đưa cho anh H 01 chiếc ví giả da có kẻ caro màu trắng đen, bên trong có số tiền 5.500.000 đồng và một số giấy tờ tùy thân để anh H cho vào trong Ti nilon đựng tiền để mang về nhà cất. Sau đó, anh H không về nhà mà điều khiển xe mô tô đến nhà anh Nguyễn Văn Dần, sinh năm 1972 ở thôn Nga Trại, xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hòa. Khi đến nhà anh Dần, anh H dựng xe mô tô ở trước cửa nhà anh Dần, đầu xe hướng ra đường tỉnh lộ 295, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa điện, Ti nilon đựng tiền và ví tiền vẫn treo ở xe rồi đi vào trong nhà anh Dần. Lúc này, Bùi V-A điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius không có biển kiểm soát, số khung: RLCS5C6HOEY044128, số máy: 5C6H-044138 của Nguyễn Văn H, chở H đến nhà anh Dần. Khi đến khu vực cửa nhà anh Dần, H nhìn thấy chiếc xe mô tô của anh H không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp, H nói với V-A “kia có cái xe để chìa khoá kìa” và bảo V-A điều khiển xe đến gần chiếc xe của anh H. Khi thấy H nói vậy, V-A hiểu là H có ý định trộm cắp nên đã chở H đến gần chiếc xe của anh H. Sau đó, H ngồi lên chiếc xe mô tô của anh H rồi nổ máy lái xe theo đường Tỉnh lộ 296 hướng lên thị trấn Thắng tẩu thoát còn V-A lái xe Sirius bỏ chạy về hướng xã Mai Đ, huyện Hiệp Hòa. H điều khiển chiếc xe trộm cắp của anh H đến địa phận thôn Tân Cầu Rô, xã Bắc Lý, huyện Hiệp Hòa thì dừng lại, kiểm tra Ti nilon, ví giả da thì thấy có tổng số tiền là 45.500.000 đồng và một số giấy tờ tùy thân (căn cước công dân, thẻ bảo hiểm y tế, thẻ tín dụng). H cất tiền vào Ti quần, vứt Ti nilon và ví giả da xuống mương nước rồi điều khiển chiếc xe mô tô vừa trộm cắp đến gửi ở nhà anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 ở thôn Chùa, xã L-P, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang. Sau đó, H gọi điện thoại bảo V-A mang chiếc xe Sirius của H đến nhà anh T. Khi V-A mang xe đến, H điều khiển chiếc xe Sirius xuống phòng trọ của mình ở tổ dân phố Tiên Phượng, phường Tương Giang, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, còn V-A đi về. Đến sáng ngày 27/5/2022, H đi xe buýt từ thành phố Từ Sơn về nhà anh T lấy chiếc xe đã trộm cắp của anh H mang xuống phòng trọ của mình cất giấu. Đến ngày 29/5/2022, H mang xe ra cổng khu công nghiệp Tiên Sơn, thành phố Bắc Ninh bán cho một người tên là Cương được 2.800.000 đồng. Số tiền có được do trộm cắp, H khai đã chi tiêu hết.
Ngày 26/5/2022, anh Đồng Văn H có đơn trình báo Công an xã Hương Lâm; ngày 27/5/2022, Công an xã Hương Lâm đã chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa để giải quyết theo thẩm quyền
Tại Kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐG ngày 07/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hiệp Hoà kết luận:
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe SUPER DREAM, màu nâu, biển kiểm soát 98L1-2817, số khung: 546879, số máy 0547024 có giá 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng).
- 01 (một) chiếc ví da, màu kẻ caro đen – trắng, dạng ví ngang cầm tay, hình chữ nhật, có chiều dài là 25 cm, chiều rộng là 15 cm: Do không thu hồi được tài sản, không có hình ảnh tài sản nên hội đồng định giá không thực hiện việc kH giá và không tiến hành định giá. Tổng giá trị các tài sản là 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng)
Ngày 04/6/2022, Bùi V-A đến Công an huyện Hiệp Hoà đầu thú (bút lục 135). Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn H; thu giữ của H 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius không gắn biển kiểm soát và 01 điện thoại di động Oppo màu vàng đen. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H và Bùi V-A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 27 tháng 09 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c,g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và truy tố đối với Bùi V-A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, đồng thời nhận bồi thường toàn bộ trách nhiệm về dân sự cho bị hại là anh H, chị Hà.
Bị cáo Bùi V-A thừa nhận có đồng phạm trong việc trộm cắp tài sản đối với Nguyễn Văn H với vai trò giúp sức, tuy nhiên bị cáo xác định số tiền 45.500.000 đồng do H trộm cắp trên chiếc xe máy bị cáo không được H thông báo cho biết và không được H phân chia số tiền bán xe và số tiền trộm cắp được, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử miễn về trách nhiệm dân sự cho bị cáo.
Các bị cáo H; V-A đều xác định đã sai, vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Bị hại anh Đồng Văn H; chị Đỗ Thị Hà đều yêu cầu bị cáo Nguyên Văn H có trách nhiệm bồi thường số tiền 58.500.000 đồng và không yêu cầu bị cáo Bùi V-A phải liên đới bồi thường, không yêu cầu bồi thường đối với chiếc ví giả da và chi phí làm lại các giấy tờ tùy thân đã bị mất.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được triệu tập nH vắng mặt tại phiên tòa và một số tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c,g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 50; Điều 58 Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử:
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/6/2022.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 50; Điều 58 Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử:
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi V-A từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/6/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại anh Đồng Văn H và chị Đỗ Thị Hà số tiền 58.500.000 đồng ( Năm mươi tám triệu, năm trăm nghìn đồng).
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2; Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, không gắn biển kiểm soát có số khung: RLCS5C6HOEY044128, số máy: 5C6H-044138.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 chiếc điện thoại di động Oppo màu vàng đen nH tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 12, Điều 23 NQ 326 Điều 23 NQ 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.
Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; và 2.925.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi V-A.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về sự vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nH vắng mặt không có lý do, tuy nhiên đã có đầy đủ lời khai của họ trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 26/5/2022, tại thôn Nga Trại, xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Văn H, sinh năm 1987 ở thôn Danh T-1, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà và Bùi V-A, sinh năm 1996 ở xóm Đạy, xã S-H, huyện Tân Lạc, tỉnh Hoà Bình đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 98L1-2817 trị giá 13.000.000 đồng và số tiền 45.500.000 đồng của anh Đồng Văn H, sinh năm 1988 ở thôn Châu Lỗ, xã Mai Đ, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang. Tổng giá trị tài sản H và V-A trộm cắp là 58.500.000 đồng.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì lợi ích trước mắt, các bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn H là người có vai trò chính trong vụ án, Bị cáo là người khởi xướng và là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, giá trị tài sản chiếm đoạt là 58.500.000 đồng, bị cáo sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Bị cáo là người có nhiều tiền án về tội xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, chưa được xóa án tích, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, nên cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự tương xứng với tính chất, vai trò, hành vi phạm tội của bị cáo, mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Bùi V-A mặc dù bị cáo không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, mà là người thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức, mặc dù bị cáo không được ăn chia từ tài sản do bị cáo Nguyễn Văn H trộm cắp và không biết việc H thực hiện trộm cắp đối với số tiền để trên xe do bị cáo H thực hiện, nH bị cáo phải chịu trách nhiệm chung về hậu quả của hành vi trộm cắp tài sản, do bị cáo Nguyễn Văn H thực hiện. Bởi lẽ nếu không có sự giúp sức của bị cáo thì bị cáo H không thể thực hiện hành vi phạm tội được. Nên cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự, mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.Tuy nhiên cũng cần xem xét đến vai trò, tính chất, hành vi của bị cáo để cá thể hóa về hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H; Bùi V-A không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Bùi V-A sau khi phạm tội đến cơ quan Công an đầu thú, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Ngoài ra bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biện khó khăn, tại phiên tòa bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi lượng hình.
Từ những nhận định trên đây, thấy cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích và biết tuân thủ pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại anh Đồng Văn H; chị Đỗ Thị Hà tại phiên tòa đều yêu cầu bị cáo Nguyên Văn H có trách nhiệm bồi thường số tiền 58.500.000 đồng và không yêu cầu bị cáo Bùi V-A phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường. Bị cáo Nguyễn Văn H đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, nên cần buộc bị cáo Nguyễn văn H bồi thường số tiền 58.500.000 đồng cho bị hại anh Đồng Văn H; chị Đỗ Thị Hà là phù hợp với quy định tại Điều 46 BLHS, Điều 589 BLDS
Về vật chứng của vụ án:
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, không gắn biển kiểm soát có số khung: RLCS5C6HOEY044128, số máy: 5C6H-044138, H khai mua của một người đàn ông không quen biết với giá 2.500.000 đồng. Qua xác minh chiếc xe này có biển kiểm soát 12X1- 061.31, đăng ký tên Ma Văn Nghị, sinh năm 1993 ở thôn Mè Thình, xã Hữu Kiên, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn. Tháng 2/2022, do không có nhu cầu sử dụng nên anh Nghị đã bán cho một người đàn ông không quen biết giá 2.000.000 đồng; kết quả tra cứu chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Hiện nay, là tang vật của vụ án nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động Oppo màu vàng đen là tài sản của Nguyễn Văn H không liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản nên cần trả lại cho bị cáo H nH cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với người mua chiếc xe Honda Dream, biển kiểm soát 98L1-281, H khai chỉ biết tên là Cương, không rõ họ và địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra, xử lý là có căn cứ.
Đối với anh Nguyễn Văn T là người trông giữ hộ H chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98L1-2817 nH anh T không biết đó là tài sản do H phạm tội mà có nên không vi phạm pháp luật là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi V-A do bị cáo thuộc đối tượng người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn.
Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1-Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm c,g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 50; Điều 58 Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử:
1.1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 46 (Bốn mươi sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 04/6/2022.
2-Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 50; Điều 58 Điều 38 của. Xử:
2.1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi V-A 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 04/6/2022.
3 -Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46 BLHS, Điều 589 BLDS
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại anh Đồng Văn H và chị Đỗ Thị Hà số tiền 58.500.000 đồng (Năm mươi tám triệu, năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có quyết định thi hành án nếu bị cáo không trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn chịu số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án tại thời điểm thi hành án theo quy định tại điều 357 của bộ luật dân sự.
4-Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2; Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, không gắn biển kiểm soát có số khung: RLCS5C6HOEY044128, số máy: 5C6H-044138( Có đặc điểm như biên bản bản giao vật chứng).
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 chiếc điện thoại di động Oppo màu vàng đen nH tạm giữ để đảm bảo thi hành án (Có đặc điểm như biên bản bản giao vật chứng)
5 - Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 12, Điều 23 NQ 326 Điều 23 NQ 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.
Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.925.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi V-A
6- Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự,
Bị cáo; Bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
7- Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự ./ Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND huyện Hiệp Hòa;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Bắc Giang;
- TAND tỉnh Bắc Giang;
- Sơ tư pháp tỉnh Bắc Giang;
- CQĐT,CQTHAHS CA huyện Hiệp Hòa;
- Trại Tạm giam CA tỉnh Bắc Giang;
- THADS huyện Hiệp Hòa;
- Cổng thông tin điện tử Tòa án;
- Người tham gia tố tụng;
Ngô Thanh Thuần
- UBND xã Danh Thắng, h. Hiệp Hòa
- UBND xã S-H, h.Tân Lạc, Hoà Bình;
- Lưu HS, VP.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Hiệp Hòa; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - TAND tỉnh Bắc Giang; - Sơ tư pháp tỉnh Bắc Giang; - CQĐT,CQTHAHS CA huyện Hiệp Hòa; - Trại Tạm giam CA tỉnh Bắc Giang; - THADS huyện Hiệp Hòa; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Người tham gia tố tụng; - UBND xã Danh Thắng, h. Hiệp Hòa - UBND xã S-H, h.Tân Lạc, Hoà Bình; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Thanh Thuần |