- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Ngô Thùy T. Buộc Ông Trần Văn U và bà Nguyễn Kiều D trả cho bà Ngô Thùy T số tiền 25.
- Căn cứ chính? Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 104/2022/DS-ST Ngày: 30-6-2022 V/v “tranh chấp hụi”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Minh Út.
Ông Lâm Ngọc Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 30 tháng 6 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 235/2022/TLST-DS ngày 20 tháng 4 năm 2022 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 222/2022/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thùy T, sinh năm 1977 (có mặt).
Cư trú: Ấp T, xã N, huyện P, tỉnh C.
- Bị đơn: Ông Trần Văn U (vắng mặt).
Bà Nguyễn Kiều D (vắng mặt).
Cư trú: Ấp T, xã N, huyện P, tỉnh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 4 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Ngô Thùy T trình bày: Vào ngày 10/9/2016 (âl), bà có mở dây hụi, ông Trần Văn U và bà Nguyễn Kiều D có tham gia 01 phần, hụi 1.000.000 đồng, dây hụi gồm 68 phần, hụi khui mỗi tháng 01 lần. Khi ông U và bà T lĩnh hụi bà đã giao tiền hụi đầy đủ cho ông U và bà D. Từ khi hốt hụi đến hụi mãn ông U còn nợ bà 41 kỳ tương ứng là 41.000.000 đồng. Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 70/2020/DS-ST, ngày
-1-
07/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử tuyên ông U và bà D trả cho bà 16.000.000 đồng do dây hụi tại thời điểm xét xử chưa mãn. Đến nay dây hụi đã mãn ông U và bà T còn nợ bà 25.000.000 đồng, tuy nhiên đến nay ông U và bà D vẫn không thực hiện trả tiền.
Nay bà T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Văn U và bà Nguyễn Kiều D trả cho bà T số tiền hụi còn nợ là 25.000.000 đồng.
- Đối với ông Trần Văn U và bà Nguyễn Kiều D đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng ông U và bà D vắng mặt không có lý do và không cung cấp lời khai cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1] Về thủ tục tố tụng: Bà Ngô Thùy T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Văn U và bà Nguyễn Kiều D trả tiền nợ hụi. Do đó, đây là tranh chấp dân sự về việc “Tranh chấp hụi” nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Trần Văn U và bà Nguyễn Kiều D là bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Trần Văn U và bà Nguyễn Kiều D.
[3] Tại phiên tòa bà Ngô Thùy T yêu cầu ông U và bà D trả số tiền nợ hụi là 25.000.000 đồng với lý do: Ông U và bà D còn nợ hụi của bà T với tổng số tiền là 25.000.000 đồng. Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 70/2020/DS-ST, ngày 07/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử tuyên ông U và bà D trả cho bà 16.000.000 đồng, đối với dây hụi mở này phần hụi còn lại ông U và bà D phải góp thêm 25 lần nữa mới kết thúc. Do đó chấp nhận yêu cầu của bà T buộc ông U và bà D phải trả cho bà T số tiền còn nợ của dây hụi với tổng số tiền là 25.000.000 đồng. Mặt khác, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông U và bà D nhưng ông U và bà D không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà T. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T buộc ông U và bà D trả số tiền còn nợ là 25.000.000 đồng.
[4] Do yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thùy T được chấp nhận toàn bộ nên buộc ông Trần Văn U và bà Nguyễn Kiều D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; bà Ngô Thùy T được hoàn lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-2-
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 471 của Bộ luật dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 về họ, hụi, biêu, phường và áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Ngô Thùy T. Buộc Ông Trần Văn U và bà Nguyễn Kiều D trả cho bà Ngô Thùy T số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Buộc ông Trần Văn U và bà Nguyễn Kiều D phải chịu 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Bà Ngô Thùy T đã nộp tạm ứng số tiền 625.000 đồng (sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng), tại biên lai thu tiền số 0017792 ngày 20/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, nay hoàn lại toàn bộ cho bà Ngô Thùy T.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Bà Ngô Thùy T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Ông Trần Văn U và bà Nguyễn Kiều D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Phú Tân; - Chi cục THADS (khi có hiệu lực); - Phòng KTNV&THA (TAND tỉnh Cà Mau); - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu trữ. -3- | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Ngọc Trọng |