- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tứ L (Tên gọi khác: T) phạm tội “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Tứ L (Tên gọi khác: T) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 56 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 104/2021/HS-ST Ngày 18-10-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG
TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Thắng;
Bà Lương Thị Thùy Dương;
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Tiến- Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 91/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2021 và Thông báo số 09/TB-TA ngày 16 tháng 9 năm 2021 về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa đối với bị cáo:
Lê Tứ L (Tên gọi khác: T), sinh ngày 01 tháng 6 năm 1985, tại Quảng Trị.
Nơi ĐKHKTT và chổ ở: Khu phố LA, phường ĐL, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: không nghề; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu H, sinh năm 1959 và bà Trần Thị Tăng L, sinh năm 1954; gia đình có 07 người con, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Trần Thị L, sinh năm 1984; Con: có 04 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2019.
Tiền án: Ngày 09/7/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đã xử phạt Lê Tứ L 10 (mười) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Bị cáo thi hành án tại Trại giam Nghĩa An đến ngày 28/01/2016 được Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù để chữa bệnh cho đến nay.
Tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 29/4/2010, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 14/01/2013, bị Công an thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
- Ngày 09/7/2013, bị Công an tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền 3.500.000 đồng về hanh vi “Xuất cảnh không có hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu theo quy định”.
Bị cáo Lê Tứ L bị tạm giam từ ngày 07/4/2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Trị cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Trần Lê V, sinh năm 1969; Địa chỉ: Khu phố A, Phường B, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
- Anh Lê Long H, sinh năm 1990; Địa chỉ: Khu phố A, Phường B, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
- Anh Trần Viết S, sinh năm 1990; Địa chỉ: Khu phố LA, phường ĐL, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
- Chị Phạm Thị T, sinh năm 1973; Địa chỉ: Khu phố A, Phường B, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Tứ L cho anh Trần Lê D (trú tại số nhà 12 kiệt 112 đường TTT, khu phố A, Phường B, thành phố Đông Hà) vay số tiền 10.000.000 đồng và hẹn ngày 09/02/2021 sẽ trả. Do đến ngày trả nợ nhưng anh D chưa trả, L gọi điện thoại anh D không bắt máy nên L tức giận và nảy sinh ý định tìm anh D để đánh.
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/02/2021, L nói với Trần Viết S (là em vợ của L) chở L đi có việc thì S đồng ý. Trước khi đi, L vào nhà lấy 01 cây kiếm giấu vào trong áo phía sau lưng. Khi anh S điều khiển xe mô tô hiệu Jupiter, biển kiểm soát 74H1-7*** chở L đi vào kiệt 112 TTT thì L nói với S dừng xe lại. L xuống xe và đi vào nhà anh D, thấy anh Trần Lê V là anh trai của anh D, L tưởng là D nên rút kiếm giấu trong người chém một nhát từ trên xuống trúng vào tay anh V gây nên thương tích. Sau đó, được anh S và chị T (vợ anh D) can ngăn nên L ra về. Vào ngày 10/02/2021, Lê Tứ L đã đến đầu thú tại Công an thành phố Đông Hà.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 72/TgT ngày 12/3/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Trị kết luận: Đứt thần kinh giữa tay phải, nhánh thần kinh giữa bàn tay trái; Đứt động mạch quay, trụ phải; Đứt gân gấp ngón I, II, III tay phải, gân gấp ngón I tay trái; Vết thương vùng đỉnh trán, cổ tay phải, lòng bàn tay trái có mép sắc. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Trần Lê V, sinh năm 1969, trú tại Khu phố A, Phường B, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị do thương tích gây nên hiện tại là 51% (Năm mươi mốt phần trăm). Các tổn thương trên do vật có cạnh sắc tác động trực tiếp.
Về vật chứng:
- 01 (một) thanh kiếm dài 100cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 74cm, lưỡi kiếm rộng 03cm, đầu lưỡi kiếm nhọn, phần cán dài 26cm được quấn bằng dây dù màu xanh;
- 01 (một) võ kiếm bằng gỗ, màu đen có kích thước dài 76cm, rộng 4,3cm, một đầu được quấn dây dù màu xanh;
- 01 (một) áo khoác dài tay, màu đỏ xám, có in dòng chữ THE NORTH FACE.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Lê V đã thỏa thuận bồi thường số tiền 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng). Bị cáo đã bồi thường đủ.
Bản cáo trạng số 96/CT-VKS-ĐH ngày 24/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Lê Tứ L về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 (dẫn chiếu điểm a, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Tứ L (Tên gọi khác: T) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm c khoản 3 (dẫn chiếu điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lê Tứ L từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt đối với bản án số 23/2014/HS-ST ngày 09/7/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thanh kiếm dài 100cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 74cm, lưỡi kiếm rộng 03cm, đầu lưỡi kiếm nhọn, phần cán dài 26cm được quấn bằng dây dù màu xanh; 01 (một) võ kiếm bằng gỗ, màu đen có kích thước dài 76cm, rộng 4,3cm, một đầu được quấn dây dù màu xanh; 01 (một) áo khoác dài tay, màu đỏ xám, có in dòng chữ THE NORTH FACE.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Đông Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, của bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án:
Có đủ cơ sở để kết luận: Do mâu thuẫn về vay mượn tiền với anh Trần Lê D, khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/02/2021, Lê Tứ L cầm theo một cây kiếm đến nhà anh D tại kiệt 112 TTT với mục đích để đánh anh D nhưng L đã chém nhầm anh Trần Lê V. Theo kết luận giám định pháp y về thương tích số 72/TgT ngày 12/3/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Trị kết luận: Đứt thần kinh giữa tay phải, nhánh thần kinh giữa bàn tay trái; Đứt động mạch quay, trụ phải; Đứt gân gấp ngón I, II, III tay phải, gân gấp ngón I tay trái; Vết thương vùng đỉnh trán, cổ tay phải, lòng bàn tay trái có mép sắc. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Trần Lê V, sinh năm 1969, trú tại Khu phố A, Phường B, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị do thương tích gây nên hiện tại là 51% (Năm mươi mốt phần trăm). Các tổn thương trên do vật có cạnh sắc tác động trực tiếp. Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Tứ Long đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự.
Xét về tính chất, hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình nhưng cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo không có mâu thuẫn gì với bị hại anh Trần Lê V nhưng bị cáo L đã dùng kiếm là hung khí nguy hiểm gây tổn thương cho anh V với tỷ lệ là 51%. Với hành vi đó, bị cáo Lê Tứ L phải chịu các tình tiết định khung của điều luật là có tính chất côn đồ và dùng hung khí nguy hiểm. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Lê Tứ L về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 (dẫn chiếu điểm a, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 23/2014/HS-ST ngày 09/7/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đã xử phạt bị cáo Lê Tứ L với mức án 10 (mười) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Đến ngày 28/01/2016, bị cáo được Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù để chữa bệnh cho đến nay. Mặc dù bị cáo đã bị kết án về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú tại cơ quan Công an; bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường 90.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án: Tại Bản án số 23/2014/HS-ST ngày 09/7/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đã xử phạt bị cáo Lê Tứ L với mức án 10 (mười) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Tại Công văn số 69/TB ngày 06/9/2021 của Trại giam Nghĩa An cung cấp thông tin về quá trình chấp hành án phạt tù của Lê Tứ L xác định: Tính đến thời điểm ngày 28/01/2016, phạm nhân Lê Tứ L đã chấp hành án được 02 năm 06 tháng 23 ngày tù. Thời gian còn lại chưa chấp hành là 07 năm 05 tháng 07 ngày tù. Vì vậy, cần áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của bản án số 23/2014/HS-ST ngày 09/7/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị với hình phạt của tội đang xét xử trong vụ án này; buộc bị cáo Lê Tứ L phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Lê V không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng:
- 01 (một) thanh kiếm dài 100cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 74cm, lưỡi kiếm rộng 03cm, đầu lưỡi kiếm nhọn, phần cán dài 26cm được quấn bằng dây dù màu xanh; 01 (một) võ kiếm bằng gỗ, màu đen có kích thước dài 76cm, rộng 4,3cm, một đầu được quấn dây dù màu xanh là vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) áo khoác dài tay, màu đỏ xám, có in dòng chữ THE NORTH FACE là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến vụ án nhưng bị cáo không có nhu cầu nhận lại vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.
Tiếp tục tam giam bị cáo Lê Tứ L thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 3 (dẫn chiếu điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56 Bộ luật Hình sự;
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Tứ L (Tên gọi khác: T) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Tứ L 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Tổng hợp thời gian còn lại chưa chấp hành của Bản án số 23/2014/HS-ST ngày 09/7/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị là 07 năm 05 tháng 07 ngày tù. Buộc bị cáo Lê Tứ L phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 12 (Mười hai) năm 11 (Mười một) tháng 07 (Bảy) ngày tù. Thời gian chấp hành án được tính từ ngày tạm giam (ngày 07 tháng 4 năm 2021).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thanh kiếm dài 100cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 74cm, lưỡi kiếm rộng 03cm, đầu lưỡi kiếm nhọn, phần cán dài 26cm được quấn bằng dây dù màu xanh; 01 (một) võ kiếm bằng gỗ, màu đen có kích thước dài 76cm, rộng 4,3cm, một đầu được quấn dây dù màu xanh; 01 (một) áo khoác dài tay, màu đỏ xám, có in dòng chữ THE NORTH FACE.
(Các vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đông Hà theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/10/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đông Hà với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đông Hà)
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Tứ L phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - VKSND thành phố Đông Hà; - Trại tạm giam – CA tỉnh Quảng Trị; - Công an thành phố Đông Hà; - Chi cục THADS TP Đông Hà; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu: HS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Sơn |