- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp t i sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 104/2020/HS - ST Ngày: 09-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Huỳnh Thị Thùy Dương.
2/ Ông Nguyễn Văn Hiệp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Hường - Kiểm sát viên.
Ng y 09 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 97/2020/TLST-HS ngày 01/4/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2020/QĐXXST – HS ngày 04/5/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 76/2020/HSST – QĐ ng y 20/5/2020 đối với bị cáo:
H v tên: Nguyễn Thanh T, sinh năm 1978. Tại: Hậu Giang. Nơi ĐKHKTT: Ấp 2, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Trình độ h c vấn: 8/12. Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn C (chết) và bà Nguyễn Thị M; Vợ: Phạm Thị Ng c Y, có 03 con (lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2013). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ng y 14/01/2020 và tạm giam cho đến nay; Có mặt.
Bị hại: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Công nghiệp T. Địa chỉ: Lô D1 – 6, khu công nghiệp Đ, phường P, th nh phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật: Ông Yen Chung J – Chức vụ: Tổng giám đốc; Vắng mặt.
Người làm chứng: H Việt T (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh T, sinh năm 1978 (cư trú tại ấp 2, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang) v H Việt T, sinh năm 1983 (cư trú tại thôn P, xã H, huyện T, tỉnh phú Yên) l bạn cùng l m chung tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn T, địa chỉ tại Lô D1-6, khu Công nghiệp Đ, phường P, th nh phố T, tỉnh Bình Dương. Quá trình l m việc tại công ty, T quan sát thấy công ty có nhiều tấm kẽm thỏi nên đã nảy sinh ý định lấy trộm những tấm kẽm thỏi trên để bán lấy tiền tiêu x i.
Thực hiện ý định trên, khoảng 20 giờ 30 phút ng y 03/12/2016, Nguyễn Thanh T đã g i điện rủ H Việt T đi trộm cắp phôi thép của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T thì T đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô hiệu Wave (không rõ biển số) còn A điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exiter, biển số 78F1-194.73 đi đến khu vực h ng r o của Công ty Trách nhiệm hữu hạn THREAD Việt Nam. Tới nơi, T và A để xe ở khu vực ngo i đường phía gần h ng r o của công ty, sau đó T trèo qua hàng rào vào trong công ty, đến khu vực h ng r o nơi Công ty để các tấm kẽm thỏi kích thước (26x23), mỗi tấm có tr ng lượng 25kg, T đứng bên trong h ng r o chuyển 12 (mười hai) tấm kẽm thỏi qua h ng r o cho A đang đứng bên ngo i h ng r o. Sau khi lấy được 12 (mười hai) tấm kẽm thỏi, T trèo ra khỏi h ng r o v để 04 (bốn) tấm kẽm thỏi lên xe mô tô hiệu Wave (không rõ biển số), còn A để 8 (tám) tấm kẽm lên xe mô tô hiệu Yamaha Exiter biển số 78F1-194.XX v cả hai cùng điều khiển xe đi tìm chỗ để tiêu thụ. Khi T và A điều khiển xe đi đến đường Mỹ Phước – Tân Vạn, thuộc phường Phú Lợi, th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an phường Phú Lợi trên đường đi tuần tra thấy có biển hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe để tiến h nh kiểm tra. Khi nhìn thấy lực lượng Công an, T đã tăng ga bỏ chạy, trên đường tẩu thoát, T đã vứt bỏ 04 tấm kẽm bên đường. Còn A bị Công an phường Phú Lợi yêu cầu về trụ sở Công an phường để l m việc, tại đây, A đã khai nhận h nh vi cùng với T trộm cắp các tấm kẽm thỏi của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T. Công an phường Phú Lợi thu giữ được số vật chứng gồm: 08 (tám) tấm kẽm thỏi; xe mô tô hiệu Yamaha Exiter biển số 78F1-194.XX; 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên H Việt A; 01 (một) Giấy đăng ký xe mô tô hiệu Yamaha Exiter biển số 78F1-194.XX; 01 (một) điện thoại di động hiệu Sony C3; 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân mạng tên H Việt A. Ngày 04/12/2016, Công an phường Phú Lợi đã b n giao hồ sơ, đối tượng A v vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an th nh phố Thủ Dầu Một giải quyết theo thẩm quyền.
Căn cứ Bản kết luận định giá t i sản số 262/KLTS-TTHS ng y 09/12/2016 của Hội đồng định giá t i sản trong Tố tụng hình sự th nh phố Thủ Dầu Một, kết luận: 01 tấm kẽm thỏi kích thước (26x23), mỗi tấm có tr ng lượng 25kg trị giá 1.514.000 đồng, Nguyễn Thanh T chiếm đoạt 12 tấm trị giá 18.168.000 đồng.
Ng y 22/02/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an th nh phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định khởi tố bị can v ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Thanh T về tội trộm cắp t i sản quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Do T bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an th nh phố Thủ Dầu Một đã tạm đình chỉ điều tra vụ án, bị can v ra lệnh truy nã đối với Nguyễn Thanh T đến ng y 14/01/2020 thì bắt được T.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 124/2017/HSST ng y 14/6/2017, Tòa án nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt H Việt A 01 năm tù về tội trộm cắp t i sản. Ngo i ra, bản án còn xử lý về phần trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp.
Đối với xe mô tô hiệu Wave (không rõ biển số) m Nguyễn Thanh T đã sử dụng để chở 04 tấm kẽm thỏi đi tiêu thụ, quá trình điều tra T khai nhận xe trên l của T mua của người nam (không rõ nhân thân, lai lịch), khi mua bán không l m giấy tờ sang tên theo quy định, sau đó quá trình bỏ trốn, T đã bán xe trên cho người nam (không rõ nhân thân, lai lịch) v T không nhớ biển số cũng như số khung, số máy của xe. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an th nh phố Thủ Dầu Một không có căn cứ để thu hồi, xử lý đối với xe mô tô trên.
Cáo trạng số 113/CT-VKS-HS ngày 31/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Trộm cắp t i sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T mức hình phạt từ 01 năm tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự v biện pháp tư pháp: Không đề nghị giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, quyết định của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng. Do đó, quyết định, h nh vi tố tụng của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng đã thực hiện l phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy tại thời điểm bị cáo thực hiện h nh vi phạm tội thì Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 có hiệu lực thi h nh nhưng mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 không bất lợi hơn khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Nghị quyết 41/2017/QH14 ng y 20/6/2017 về việc thi h nh Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13; khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can cùng những t i liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ng y 03/12/2016, Nguyễn Thanh T đã có h nh vi cùng H Việt A lén lút chiếm đoạt 12 (mười hai) tấm kẽm kích thước 26 x 23cm có tổng trị giá 18.168.000 đồng của công ty Trách nhiệm hữu hạn Công nghiệp Thread Việt Nam. Do đó, h nh vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu th nh tội “Trộm cắp t i sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh v điều khoản như trên l có căn cứ, đúng người, đúng tội. Đối với H Việt A đã bị xét xử theo bản án hình sự sơ thẩm số 124/2017/HSST ng y 14/6/2017 của Tòa án nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một nên Hội đồng xét xử không để cập xử lý.
Hành vi m bị cáo thực hiện l nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về t i sản của pháp nhân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết h nh vi của mình l vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam m bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện h nh vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, h nh vi phạm tội m bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở th nh công dân có ích cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo có thái độ th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải về h nh vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu v thuộc T hợp ít nghiêm tr ng. Đây l những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Căn cứ nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt m Đại diện Viện kiểm sát đề nghị l phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo nộp số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) l trị giá xe mô tô m bị cáo sử dụng l m phương tiện phạm tội sung ngân sách nh nước.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý v sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp t i sản”.
2/ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ng y 14/01/2020.
3/ Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
4/ Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Buộc bị cáo nộp số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) sung ngân sách nh nước.
5/ Về án phí: Buộc bị cáo nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y nhận được bản án hoặc ng y bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương (PV06); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND th nh phố Thủ Dầu Một; - Công an th nh phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS th nh phố Thủ Dầu Một; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, Tòa. | TM HỘI Đ NG X T X Ơ TH M TH M PHÁN – CHỦ T A PHI N TÒA Lê Minh Đạo |