vanban.org

Bản án 104/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 22/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Võ Thanh P (tên gọi khác: Võ Văn P, Võ Văn Vương, Võ Văn Sơn, Nhí, Nhỏ) 3 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, 23/9/2019.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thanh Phương phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Võ Thanh P (tên gọi khác: Võ Văn P, Võ Văn Vương, Võ Văn Sơn, Nhí, Nhỏ) 3 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, 23/9/2019.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự - Trả lại
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2020/HS-ST
Ngày: 22/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Lệ

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lý

Ông Nguyễn Văn Bạn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng P Thảo - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thái Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 124/2020/HS-ST ngày 03 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2020/QĐXX-HS ngày 11 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Võ Thanh P (tên gọi khác: Võ Văn P, Võ Văn Vương, Võ Văn Sơn, Nhí, Nhỏ), sinh năm 1973 tại Phú Yên. Giới tính: Nam. HKTT: Không rõ. Nơi ở: Không có nơi cư trú ổn định (sống lang thang). Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Võ Văn Ngộ (đã chết); Con bà Lâm Thị Ái Liễu.

* Nhân thân:

1 - Bản án số 17/HSST ngày 29/7/1994 của Tòa án nhân dân thị xã Phan Rang – Tháp Chàm xử Võ Văn P 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.

2 - Bản án số 08/HSST ngày 17/3/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử Võ Văn P 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” .

3 - Bản án số 44/HSST ngày 27/9/2000 của Tòa án nhân dân thị xã Phan Rang – Tháp Chàm xử Võ Văn P 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”

.

4 - Bản án số 85/2010/HSST ngày 31/8/2010, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt Võ Văn Vương 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

* Tiền án:

1 - Bản án số 09/HSST ngày 24/4/1995, Tòa án nhân dân thị xã Phan Rang – Tháp Chàm xử phạt Võ Văn P 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/9/1995. Chưa thi hành phần án phí.

2 - Bản án số 04/HSST ngày 22/01/1996, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phạt Võ Văn P 2 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/11/1997. Chưa thi hành phần án phí.

3 - Bản án số 27/HSPT ngày 23/7/2003, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phạt Võ Văn P 2 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/5/2005. Chưa thi hành phần án phí.

4 - Bản án số 338/2016/HSST ngày 28/11/2016, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt Võ Văn P 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/8/2017.

5 - Bản án số 04/2018/HSST ngày 09/01/2018, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt Võ Văn P 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/7/2018.

Bị cáo bị bắt giam từ ngày 23/9/2019 đến nay. Có mặt tại phiên tòa

* Bị hại: Ông Dương Minh T, sinh năm 1998 HKTT: 35 làng Y, phường Y, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội Trú tại: 12B NHC, phường 19, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1993 Trú tại: Phòng 920 Chung cư CT1 VH, thành phố Nha Trang. Vắng mặt

* Người làm chứng:

- Ông Trần Đình V, sinh năm 1970 Trú tại: 41/8 Phan Đình Giót, phường P Sài, thành phố Nha Trang

- Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1988 Trú tại: 12/1 N, phường VT, thành phố Nha Trang Chỗ ở hiện nay: Tổ 12 S, phường V, thành phố Nha Trang Đều vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 22/9/2019, Võ Thanh P đi xung quanh khu vực tháp Trầm Hương, đường Trần Phú, thành phố Nha Trang tìm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. P phát hiện xe máy hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 49D1-115.38 của anh Dương Minh T đang dựng trên vỉa hè trước tháp Trầm Hương nhưng không ai trông giữ. Lúc này, P lấy chùm chìa khóa giấu sẵn trong người cắm vào ổ khóa xe máy lắc mạnh khoảng 02 phút thì mở được khóa xe rồi nổ máy điều khiển xe bỏ chạy về hướng vòng xoay đường Lê Thánh Tôn - Trần Phú. Khi P chạy được khoảng 05 mét thì bị anh Trần Đình V phát hiện, truy hô cùng với người dân bắt giữ được P và đưa về cơ quan công an làm việc.

Tại bản kết luận định giá số 517 ngày 23/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Nha Trang kết luận: xe máy YAMAHA – SIRIUS biển kiểm soát 49D1-115.38 trị giá là 4.104.000 đồng (Bốn triệu một trăm lẻ bốn ngàn đồng).

Tại bản cáo trạng số 113/CT-VKSNT ngày 01/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Võ Thanh P mức án từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết; xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động hiệu BIRD; tịch thu tiêu hủy 3 chìa khóa và buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Xét thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo thủ tục chung.

2]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố là có tính khách quan và hợp pháp.

Về nội dung:

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Võ Thanh P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo là đối tượng sống lang thang, không có nghề nghiệp, lấy việc trộm cắp tài sản làm nguồn sống chính Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “có tính chất chuyên nghiệp” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa P. Bản thân bị cáo có nhân thân rất xấu, đã nhiều lần bị tòa án xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng không lấy đó làm bài học để cải tạo hoàn lương, vẫn tiếp tục phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm.

4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản thân bị cáo có 05 tiền án chưa được xóa án tích. Tuy nhiên, theo nội dung vụ việc tại Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2018/HSST ngày 09/01/2018, bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới mức định lượng (1.072.000 đồng) nên các bản án trước đó là tình tiết định tội trong bản án 04/2018/HSST ngày 09/01/2018. Vì vậy, trong vụ án này, Hội đồng xét xử chỉ áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho người bị hại nên Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

6]. Về trách nhiệm dân sự:

Tại các Biên bản ghi lời khai trong quá trình điều tra, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

7]. Về vật chứng:

- Vật chứng đã xử lý trong giai đoạn điều tra, Hội đồng xét xử không xem xét

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu BIRD màu xanh: Xét thấy không phải là công cụ, P tiện phạm tội trong vụ án này mà là tài sản riêng của bị cáo nên tuyên trả cho bị cáo.

- 01 chùm gồm 3 chìa khóa: Xét không có giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy

8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Võ Thanh P (tên gọi khác: Võ Văn P, Võ Văn Vương, Võ Văn Sơn, Nhí, Nhỏ) 3 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, 23/9/2019.

* Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

* Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

- Trả lại cho bị cáo 01 di động hiệu BIRD màu xanh

- Tịch thu tiêu hủy 3 chìa khóa;

Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang và Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Nha Trang.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; bị cáo Võ Thanh P phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ