- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Văn M phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi,…"
- Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tạ Văn M phạm tội "Cố ý gây thương tích".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 104/2020/HS-ST Ngày: 04/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Thúy và bà Ngô Thị Thời
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Ngọc Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2020/TLST- HS ngày 24 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2020/HSST- QĐ ngày 11 tháng 8 năm 2020, Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử ngày 14/8/2020, đối với bị cáo:
Tạ Văn M, sinh năm: 1997; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn CN, xã TT, thành phố HD, tỉnh HD; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Tạ Văn Th và bà Nguyễn Thị H5; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: chưa;
Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 07/5/2020 đến nay (có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Anh Võ Hồng T, sinh năm 1998; Nơi cư trú: thôn CT, xã TT, thành phố HD, tỉnh HD. (vắng mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Võ Văn Q, sinh năm: 1981; Nơi cư trú: thôn CT, xã TT, thành phố HD, tỉnh HD (có mặt tại phiên tòa).
+ Bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1976; Nơi cư trú: thôn CT, xã TT, thành phố HD, tỉnh HD (vắng mặt tại phiên tòa).
Người đại diện theo ủy quyền của anh Võ Hồng T và bà Hoàng Thị T1 là ông Võ Văn Q, sinh năm 1981 (có mặt tại phiên tòa).
+ Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1987; Nơi cư trú: thôn CN, xã TT, thành phố HD, tỉnh HD (vắng mặt tại phiên tòa).
- Những người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Văn Th1, sinh năm 1986; Nơi cư trú: thôn QT, xã TT, thành phố HD, tỉnh HD (có đơn xin xét xử vắng mặt).
+ Anh Hoàng Trọng T3, sinh năm: 1997; Nơi cư trú: thôn CN, xã TT, thành phố HD, tỉnh HD (có mặt tại phiên tòa).
+ Anh Hoàng Văn B, sinh năm: 1991; Nơi cư trú: thôn CN, xã TT, thành phố HD, tỉnh HD (có đơn xin xét xử vắng mặt).
+ Anh Lê Văn H1, sinh năm 1991; Nơi cư trú: thôn CN, xã TT, thành phố HD, tỉnh HD (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20h30’ ngày 17/10/2019, Tạ Văn M cùng bạn là Hoàng Trọng T3 ở thôn Cập Nhất, xã Tiền Tiến, thành phố Hải Dương đến quán internet “Hùng game” ở thôn Cập Thượng, xã Tiền Tiến, thành phố Hải Dương chơi. Tại quán, M gặp anh Võ Hồng T ở thôn Cập Thượng, xã Tiền Tiến, thành phố Hải Dương và anh Nguyễn Văn Th1 ở thôn Quang Trung, xã Tiền Tiến, thành phố Hải Dương đang ngồi chơi game. Khi vào quán do lúc này anh T ngồi tại máy số 01 hàng ghế đầu tiên nên M phải đi qua anh T mới vào được. Khi đi qua anh T, M nói “Mày né ra để tao đi” thì anh T bảo “sao tao phải né ra” nên giữa anh T và M có lời qua tiếng lại cãi nhau. Khi cả hai đang đứng đối diện nhau thì M dùng tay tát 02 phát vào mặt anh T. Anh T đứng dậy đấm vào mặt và người M nhưng không gây thương tích. Thấy M và anh T xô xát, anh Th1 đứng dậy can ngăn. Anh T đấm vào mặt và người M, M và anh T giằng co nhau, M dùng tay phải vơ chiếc cốc thủy tinh hình trụ tròn có quai cao khoảng 15cm, đường kính 07cm để ở bàn số 2 (là cốc để ở vị trí mặt bàn chỗ anh Th1 lúc trước dùng uống nước) đập một phát từ trên xuống, từ phải qua trái vào vùng đầu bên trái của anh T làm cốc bị vỡ ra làm nhiều mảnh, đầu anh T bị rách da, chảy máu. Sau đó, M bỏ về, còn anh T được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương đến ngày 24/10/2019 chuyển điều trị tại Bệnh viện Việt Đức - Hà Nội đến ngày 01/11/2019 ra viện.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 50/TgT ngày 09/3/2020, Phòng Giám định pháp y - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Chấn thương sọ não gây vỡ xương sọ, tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái, dập não, chảy máu màng mềm. Đã mổ xử lý. Hiện khuyết xương sọ vùng bán cầu trái, đường kính trước sau chỗ rộng nhất 121 mm, tổn thương cũ dịch hóa thùy thái dương chẩm trái KT: 29x69 mm, di chứng nói khó, trí nhớ giảm, tư duy chậm, để lại sẹo vết thương, mổ, mở khí quản kích thước trung bình và nhỏ.
- Tổn thương có đặc điểm do vật tày gây ra, anh T bị người khác dùng chiếc cốc thủy tinh đánh gây ra tổn thương trên là phù hợp.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 69%.
Về vật chứng: 01 túi nilong màu xanh nhạt bên trong chứa nhiều mảnh vỡ thủy tinh được buộc kín dán niêm phong đang được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện theo ủy quyền của bị hại yêu cầu bị cáo Tạ Văn M bồi thường tổng số tiền là 372.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi hai triệu đồng chẵn), gồm các khoản: Tiền viện phí, tiền bồi thường tổn thất về sức khỏe và tinh thần, tiền công người chăm sóc anh T là ông Võ Văn Q phải nghỉ lao động là 30.000.000 đồng. Gia đình bị cáo Tạ Văn M đã bồi thường thay bị cáo 27.000.000 đồng (Hai mươi bảy triệu đồng chẵn), bị cáo Tạ Văn M còn phải bồi thường 345.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi lăm triệu đồng chẵn). Bị cáo Tạ Văn M nhất trí với yêu cầu của bị hại.
Tại Cáo trạng số 97/CT-VKSTPHD ngày 24/7/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố Tạ Văn M về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn Q đề nghị xem xét tiền mất thu nhập trong thời gian ông Q chăm sóc anh T tại Bệnh viện Hải Dương và Bệnh viện Việt Đức là 30.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T2 tại giai đoạn điều tra xác định chiếc cốc bị cáo M dùng để gây thương tích cho anh T đã bị vỡ, giá trị chiếc cốc không lớn nên không yêu cầu bị cáo M bồi thường.
Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, nhất trí bồi thường theo yêu cầu của bị hại, xác định cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là chính xác, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tạ Văn M phạm tội "Cố ý gây thương tích".
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134, điểm s, b khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tạ Văn M từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày 07/5/2020.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 và Điều 357, Điều 468 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Ghi nhận sự thỏa thuận của người đại diện theo ủy quyền của bị hại và bị cáo Tạ Văn M. Buộc bị cáo Tạ Văn M phải bồi thường cho bị hại Võ Hồng T 372.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi hai triệu đồng chẵn), bị cáo M đã bồi thường 27.000.000 đồng (Hai mươi bảy triệu đồng chẵn) bị cáo còn phải bồi thường 345.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi lăm triệu đồng chẵn).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy nhiều mảnh vỡ thủy tinh được niêm phong trong gói nilon đang được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo Tạ Văn M tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, bị hại, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20h30’ ngày 17/10/2019, tại quán internet “Hùng game” ở thôn CT, xã TT, thành phố HD, tỉnh HD, Tạ Văn M dùng 01 chiếc cốc thủy tinh hình trụ có quai cao khoảng 15cm, đường kính 07cm đập 01 phát vào phần trái đầu anh Võ Hồng T gây chấn thương sọ não gây vỡ xương sọ, tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái, dập não, chảy máu màng mềm, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 69%. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì coi thường sức khỏe của người khác nên vẫn cố ý thực hiện. Mặc dù, thương tích mà bị cáo gây ra cho anh T với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 69% nhưng do bị cáo dùng chiếc cốc thủy tinh theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được xác định là “Hung khí nguy hiểm” để đập vào đầu anh T gây thương tích nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Bản thân bị cáo, bị hại trong vụ án này chỉ có mâu thuẫn trong khi chơi điện tử, khi bị cáo và bị hại xảy ra xô sát đã được mọi người can ngăn, bị cáo có thể có nhiều cách xử sự khác, phù hợp pháp luật nhưng bị cáo không lựa chọn mà lại sử dụng cốc thủy đánh vào đầu bị hại, dẫn đến việc gây thương tích cho bị hại. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại 27.000.000 đồng (Hai mươi bảy triệu đồng chẵn) nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.
. Về trách nhiệm dân sự: Theo quy định tại Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự, bị cáo gây thương tích cho bị hại nên bị cáo phải bổi thường cho bị hại những thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền 372.000.000 đồng (Ba trăm bảy hai triệu đồng chẵn), gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe, thu nhập thực tế bị mất của bị hại, bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại và tiền mất thu nhập của ông Võ Văn Q - người chăm sóc anh T trong thời gian điều trị là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng chẵn). Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại 27.000.000 đồng (Hai mươi bảy triệu đồng chẵn), bị cáo còn phải bồi thường 345.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi lăm triệu đồng chẵn). Bị cáo nhất trí với yêu cầu bồi thường của người đại diện theo ủy quyền của bị hại. Do vậy, cần chấp nhận sự thỏa thuận này của bị cáo và bị hại.
. Về vật chứng: Bị cáo sử dụng chiếc cốc của chị Nguyễn Thị T2 để đánh vào đầu bị hại. Chiếc cốc đã bị vỡ, chị Thu không đề nghị nhận lại và không yêu cầu bị cáo bồi thường. Do vậy, cần tịch thu tiêu hủy “01 túi nilong màu xanh nhạt bên trong chứa các mảnh vỡ thủy tinh” buộc kín dán niêm phong đang được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương là công cụ bị cáo thực hiện tội phạm theo quy định điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về án phí: Bị cáo bị kết án và phải bồi thường nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và Dân sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 4 Điều 134, điểm s,b khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 và Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tạ Văn M phạm tội "Cố ý gây thương tích".
[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tạ Văn M 08 (tám) năm tù, thời hạn tính từ ngày 07/5/2020.
[3]. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và người đại diện theo ủy quyền của bị hại. Buộc bị cáo Tạ Văn M phải bồi thường cho anh Võ Hồng T các khoản gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe, thu nhập thực tế bị mất của bị hại, bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại và người chăm sóc bị hại ông Võ Hồng Quyến số tiền 30.000.000 đồng. Tổng cộng là: 372.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi hai triệu đồng chẵn), bị cáo đã bồi thường 27.000.000 đồng (Hai mươi bảy triệu đồng chẵn). Bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại là 345.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi lăm triệu đồng chẵn).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
[4]. Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 túi nilon màu xanh nhạt bên trong có chứa các mảnh vỡ thủy tinh.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Hải Dương và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương ngày 11/8/2020).
[5]. Về án phí: Buộc bị cáo Tạ Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 17.250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[6]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật;
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - VKSND tỉnh Hải Dương; - VKSND thành phố Hải Dương; - Cơ quan CSĐT - Công an TP Hải Dương; - Chi cục THADS thành phố Hải Dương; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Hải Dương; - Cơ quan THAHS Công an TP Hải Dương; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Mai Hoa |