- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trung T - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 104/2020/HS-ST Ngày 22 tháng 05 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Châu Ngọc Hà.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đăng Quang Hoạch
Ông Doãn Đức Hùng.
- Thƣ ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Kiều.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TB, tỉnh ĐN tham gia phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Mạnh- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 05 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TB, tỉnh ĐN, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 07 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2020/QĐXXST-HS ngày 11/01/2020 đối với bị cáo:
1.Nguyễn Trung T (L) , sinh ngày 1988 tại: ĐN. HKTT :44E/10, KP10, P. TH, BH, ĐN; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới Th: Nam; Tôn giáo: ThiênChúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1965 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1965. Gia đình có 04 anh chị e và bị cáo à con thứ 2 trong gia đình. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm: 1989 và có 2 con , con lớn sn 2011, con nhỏ sn 2016.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 30/09/2008, bị Tòa án nhân dân Thành phố BH xử phạt 02 (hai) năm tù giam về tội” Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/09/2009.
Bị tạm giữ từ ngày ngày 03/01/2020. (Có mặt).
*Bị Hại: chị Lâm Thị Mỹ T, sinh ngày 26/06/2006.
Trú tại: ấp TT, Xã HH, huyện GG, tỉnh KG.
Đại diện theo pháp luật của bị hại là Ông Lân Văn V, SN; 1977 và bà Huỳnh Thanh H, Sn: 1981 (là cha, mẹ của bị hại) cùng trú tại: ấp TT, Xã TH, huyện GG, tỉnh KG.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/01/2020, Nguyễn Trung T điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo biển số 60Z3-8395 lưu thông trên đường 3/2, khuu phố 5, TT TB về xã QT thì phát hiện cháu Huỳnh Ngọc G, Sn 2005 điều khiển xe đạp điện chở cháu Lâm Thị Mỹ T, sn 2006 ngồi phía sau lưu thông cùng chiều phía trước, T thấy phía sau túI quần bên phải của cháu T có 01 điênh thoại di độnghiệu OPPO A5 thò ra ngoài nên nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại của cháu T. Khi đến khu vực trước cổng sân vận động huyện TB thuộc khu phố 5, TT TB thì T điều khiển xe mô tô áp sát vào bên phải xe đạp điện của cháu G và dùng tay trái giật chiếc điện thoại của cháu T rồi tẩu thoát về hướng xã Quảng Tiến, bị T giật mất điện thoại cháu T và cháu G tri hô và đuổi theo, do hoản sợ nên T chạy được khoảng 10m thì ngã xe nên bị quần chúng nhân dân bắt giữ và báo công an thị trấn TB lập biên bản phạm tội quả tang. Công an thị trấn TB đã bàn giao Nguyễn Trung T cùng vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TB để xử lý theo thẩm quyền (bút lục 17-18 ; 39-52 ;58-63 ;65-69).
Vật chứng thu giữ : 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5 màu đen ;01 xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo biển số 60Z3-8395 có số khung : RLCN5P110BY414796, số máy : 5P11-414796 (bút lục 17-18).
Theo bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện TB thì 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5 màu đen đã qua sử dụng giá trị 4.290.000 đồng (bút lục 22-24).
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Trung T để điều tra. Quá trình điều tra, bị can thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
- Xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5 màu đen đã qua sử dụng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TB đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho cháu Lâm Thị Mỹ T (bút lục 92-93).
Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo biển số 60Z3-8395do T Điều khiển, qua quá trình xác minh, Cơ quan điều tra xác định được biển số trên là của xe mô tô hiệu Honda Lead do chị Phạm Thị Trang, ngụ tại ấp An Bình, xã Trung Hoà, huyện TB đứng tên chủ sở hữu, vì vậy xác định biển số xe 60Z3-8395 gắn trên xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo do T điều khiển là giả (bút lục 78-80).
Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng càu giám định số máy và số khung của xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo do T điều khiển. Tại kết luận giám định số 482/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh ĐN thì số máy, số khung xe mô tô trên không bị đục, sửa (bút lục 25-26).
Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành xác minh số khung, số máy của xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo do T điều khiển tại phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh ĐN nhưng cũng không xác định được nguồn gốc của xe mô tô trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra tách ra, tiếp tục xác minh, xử lý sau (bút lục 27-29).
Tại bản cáo trạng số 115-CT/VKS-TB ngày 15/04/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố Nguyễn Trug T về tội « cướp giật tài sản » theo quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự 2015 ;
Tại phiên toà Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị :
Ap dụng điểm d ; g khoản 2 Điều 171 ; điểm s khoản 1 Điều 51 – Bộ luật hình sự 2015, xử phạt : bị cáo Nguyễn Trung T mức á từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về án phí : Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo T không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát ; Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
. Về tố tụng: Bị hại và Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời kha tại Cơ quan điều tra nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra , truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luaath hình sự.
. Lời khai nhận cảu bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, chứng cứ hác có trog hồ sơ vụ án. Như vậy, xét đã có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/01/2020, tại khu vực cổng sân vận động huyện TB thuộc khu phố 5, TT TB, tỉnh ĐN Nguyễn Trung T có hành vi điều khiển xe mô tô cướp giật cảu cháu Lâm Thị Mỹ T 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5 (trị giá 4.290.000 đồng). Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “ cướp giật tài sản” được quy định tại điểm d ; g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015.
xét nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy : Bị cáo T không có có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s Điều 51-BLHS năm 2015 ; bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Quan điểm của viện kiểm sát nhân dân huyện TB phù hợp với nhận định của Hội đòng xét xử nên được cháp nhân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm điểm d ; g khoản 2 Điều 171 ; điểm s Điều 51-BLHS năm 2015:
1) Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “cướp giật tài sản”.
- Xử phạt bị cáo: Nguyễn Trung T 04 (bốn ) năm tù thời hạn tù Th từ ngày 03/01/2020.
2) Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án này theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; bị hại - Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai; -VKSND huyện TB; - VKSND tỉnh ĐN ; - Cơ quan điều tra huyện TB; - Sở Tư pháp tỉnh ĐN; -UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lê Châu Ngọc Hà |