vanban.org

Bản án 104/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 29/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân B phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

* Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Điều 292; 299; 326; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xử phạt Nguyễn Xuân B 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được khấu trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân B phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2019/HS-ST
Ngày 29-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Trọng Khôi

- Các hội thẩm nhân dân: Ông: Lê Văn La

Ông: Nguyễn Quang Vinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Lâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Luyện - Kiểm sát viên.

Ngày 29/11/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 106/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2019; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2019/QĐXXST-HS ngày 15/11/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân B, sinh năm 1984.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Số 23/2 đường L, phường T, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1937 (đã chết); con bà Lê Thị T, sinh năm 1945, hiện ở khu 9 thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; Gia đình có 04 chị em, bản thân là con út; Vợ: Trần Ngọc M, sinh năm 1991 đã ly hôn; Phạm Thị H, sinh năm 1989 đã ly hôn và có 03 con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2016;

- Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2019 đến ngày 19/7/2019 trả tự do. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Hà Văn K, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Số 162/4 đường B, phường H, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bản cáo trạng số: 107/CT-VKS ngày 12/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố Nguyễn Xuân B về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 16/6/2019, tại Km 104+400, Quốc lộ 1A thuộc thôn T, xã T, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, Tổ tuần tra kiểm soát của phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Giang phát hiện xe ô tô biển kiểm soát 12C-001.43 chạy quá tốc độ. Tổ công tác đã tiến hành dừng xe kiểm tra phát hiện đối tượng Nguyễn Xuân B, sinh năm 1984 ở số 23/2, đường L, phường T, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, đang có hành vi vận chuyển các vật nghi pháo. Tổ tuần tra đã đưa đối tượng B về Công an huyện Lạng Giang lập biên bản tuần tra kiểm soát và xác định vật chứng thu giữ trên thùng xe ô tô 12C-001.43 như sau:

- Trong 01 bao tải dứa màu xanh được đánh số 01 có: 01 thùng cát tông được bọc bằng túi nilon, bên trong có 36 vật hình hộp, vỏ bọc giấy màu in hoa văn, chữ nước ngoài nghi là pháo dàn loại 36 quả, kích thước mỗi vật (14,5x14,5x15)cm. Tổng khối lượng là 50,6kg.

- Mở thùng cát tông ghi nhãn hiệu Vinataba (được đánh số 02) bên trong có: 08 vật hình hộp, vỏ bọc giấy màu in hoa văn, chữ nước ngoài nghi là pháo dàn loại 100 quả, kích thước mỗi vật (24x24x15)cm. Tổng khối lượng là 30,6kg.

- Trong 01 bao tải dứa màu xanh được đánh số 03 có: 01 thùng cát tông được bọc bằng túi nilon, bên trong có 18 vật hình hộp, vỏ bọc giấy màu in hoa văn, chữ nước ngoài nghi là pháo dàn loại 36 quả, kích thước mỗi vật (14,5x14,5x15)cm, tổng khối lượng là 25,4kg và 11 vật hình hộp, vỏ bọc giấy màu in hoa văn, chữ nước ngoài nghi là pháo dàn loại 100 quả, kích thước mỗi vật (24x24x15)cm, tổng khối lượng là 42kg.

- Trong 01 bao tải dứa màu xanh được đánh số 04 có 01 thùng cát tông được bọc bằng túi nilon, bên trong có 12 vật hình hộp, vỏ bọc giấy màu in hoa văn, chữ nước ngoài nghi là pháo dàn loại 100 quả, kích thước mỗi vật (24x24x15)cm. Tổng khối lượng là 46kg.

- Mở thùng cát tông được đánh số 05, bên trong có 05 vật hình hộp, vỏ bọc giấy màu in hoa văn, chữ nước ngoài nghi là pháo dàn loại 100 quả, kích thước mỗi vật (24x24x15)cm, tổng khối lượng là 19kg và 18 vật hình hộp, vỏ bọc giấy màu in hoa văn, chữ nước ngoài nghi là pháo dàn loại 36 quả, kích thước mỗi vật (14,5x14,5x15)cm, tổng khối lượng là 25,5kg.

- Trong 01 bao tải dứa màu xanh được đánh số 06 có 01 thùng cát tông được bọc bằng túi nilon, bên trong có 12 vật hình hộp, vỏ bọc giấy màu in hoa văn, chữ nước ngoài nghi là pháo dàn loại 100 quả, kích thước mỗi vật (24x24x15)cm. Tổng khối lượng là 45,5kg.

Tổng khối lượng các vật nghi là pháo thu giữ là 284,6kg (đã được niêm phong theo quy định).

Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Xuân B: 01 xe ô tô BKS 12C-001.43 nhãn hiệu Songhuajiang; 01 đăng ký xe ô tô 12C-001.43; 01 giấy chứng nhận kiểm định; 01 ví da màu đen bên trong có 800.000đ (03 tờ mệnh giá 200.000đ và 02 tờ mệnh giá 100.000đ); 01 điện thoại di động Itel (BL 82-88).

Tại kết luận giám định số 3431/C09-P2 ngày 19/6/2019 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:

- 36 khối hộp, vỏ bọc giấy màu, bên trong mỗi khối hộp gồm 36 vật hình trụ, vỏ giấy đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 50,6kg.

- 08 khối hộp, vỏ bọc giấy màu, bên trong mỗi khối hộp gồm 100 vật hình trụ, vỏ giấy đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 30,6kg.

- 18 khối hộp, vỏ bọc giấy màu, bên trong mỗi khối hộp gồm 36 vật hình trụ, vỏ giấy và 11 khối hộp, vỏ bọc giấy màu, bên trong mỗi khối hộp gồm 100 vật hình trụ, vỏ giấy màu đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ). Khối lượng 18 khối hộp là 25,4kg và khối lượng 11 khối hộp là 42kg.

- 12 khối hộp, vỏ bọc giấy màu, bên trong mỗi khối hộp gồm 100 vật hình trụ, vỏ giấy đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 46kg.

- 05 khối hộp, vỏ bọc giấy màu, bên trong mỗi khối hộp gồm 100 vật hình trụ, vỏ giấy và 18 khối hộp, vỏ bọc giấy màu, bên trong mỗi khối hộp gồm 36 vật hình trụ, vỏ giấy màu đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ). Khối lượng 05 khối hộp là 19kg và khối lượng của 18 khối hộp là 25,5kg.

- 12 khối hộp, vỏ bọc giấy màu, bên trong mỗi khối hộp gồm 100 vật hình trụ, vỏ giấy đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 45,5kg”.

Trả lại mẫu vật sau khi trích 38,4kg pháo để giám định” (BL 115-116).

Căn cứ tài liệu đã thu thập, ngày 17/6/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lạng Giang đã tiến hành bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Xuân B để điều tra, làm rõ hành vi vận chuyển hàng cấm.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân B khai nhận: Bản thân B quen biết với đối tượng tên là N (tức T) từ khoảng năm 2010, do cả hai người cùng làm công nhân bốc vác ở khu ga Đ, thị trấn Đ, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Khoảng đầu năm 2019, B gặp lại N thì được biết, hiện tại N đang chở pháo từ Lạng Sơn về Hà Nội bán sẽ kiếm nhiều lợi nhuận. N có rủ B đi chở pháo nhưng B không đồng ý.

Do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên chiều ngày 13/6/2019, B đã chủ động đến khu trọ của N ở khu ga Đ, thị trấn Đ, huyện Cao Lộc đặt vấn đề đi chở pháo thuê cho N để kiếm tiền trang chải kinh tế gia đình. Hai bên thỏa thuận cước chở pháo cho mỗi chuyến từ Lạng Sơn xuống Hà Nội là 5.000.000đ/ 01 chuyến, khi nào B chở pháo xuống Hà Nội sẽ có người liên lạc để lấy pháo. Sau đó, N đã đưa cho B 5.000.000đ tiền công, B đồng ý. Khoảng 03 giờ 30 phút sáng các ngày 15 và 16/10/2019, N gọi điện bảo B ra cầu vượt ga Đ, gần chỗ ở của B để lấy pháo. Khi B ra khu ga đã thấy N để pháo ở đó. B mượn xe rùa của chị Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1989 nhà bên cạnh để ra chở 04 bao pháo N đã để sẵn ở đó mang về nhà rồi cho vào các bao tơ dứa màu xanh cất giấu ở bếp. Đến sáng 16/10/2019, B đến nhà anh Hà Văn K, sinh năm 1968 ở số 162/4, đường B, phường H, thành phố Lạng Sơn thuê xe ô tô biển kiểm soát 12C-001.43 để về vận chuyển pháo thuê cho N. Sau khi thuê được xe, N bảo B đến nhà đối tượng Hà Văn Q, sinh năm 1989 ở Khu G, thị trấn Đ, huyện Cao Lộc để lấy thêm 01 bao pháo nữa đi giao cho khách. B điều khiển xe ô tô đến gần nhà Q và được Q giao thêm 02 thùng catong pháo để trên thùng xe. Sau đó, B điều khiển xe về chỗ ở lấy 04 bao pháo cất giấu trong nhà bếp để lên thùng xe rồi điều khiển xe xuống Hà Nội giao cho khách. Khi B điều khiển xe chở pháo đến địa phận thôn T, xã T, huyện Lạng Giang thì bị tổ tuần tra của Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Giang kiểm tra phương tiện, thu giữ vật chứng rồi bàn giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện Lạng Giang giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 17/6/2019, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Xuân B nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật gì.

Tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng đều có lời khai phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. Bị cáo khẳng định việc bị cáo khai tại cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và tại phiên tòahôm nay làhoàntoàntự nguyện,khônghềbị ép buộchay bịbức cunghoặcdùng nhụchình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang xác định lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay đều phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai người liên quan, người làm chứng; phù hợp với thời gian, địa điểm phạm tội, Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; biên bản tuần tra kiểm soát, biên bản và sơ đồ hiện trường; tang vật chứng thu giữ; kết luận giám định; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân B phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”; Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Xuân B từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được khấu trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2019 đến ngày 19/7/2019 vào thời gian chấp hành hình phạt tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội và buộc tội của vị đại diện Viện kiểm sát, mà xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về gia đình với 2 con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Lạng Giang và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan điều tra, viện kiểm sát và các chức danh tư pháp đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng pháp luật.

Nội dung vụ án: Hồi 10 giờ 30 phút ngày 16/6/2019, tại Km 104+400 Quốc lộ 1A thuộc thôn T, xã T, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, Tổ tuần tra của Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Giang dừng xe ô tô biển kiểm soát 12C-001.43 do Nguyễn Xuân B, sinh năm 1984 ở số 23/2, đường L, phường T, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn để kiểm tra và phát hiện B đang có hành vi vận chuyển trái phép 284,6kg pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế, trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại được pháp luật bảo vệ. Do vậy cần xử lý đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân từ thành phần con em người lao động; bản thân chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có mẹ đẻ là người có công với cách mạng, được tặng thưởng huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì; quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên cần áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, để bị cáo sớm có điều kiện trở về làm ăn lương thiện cùng với gia đình.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo vận chuyển hàng cấm để nhằm thu nhập bất chính, nên ngoài hình phạt chính lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 191 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để sung công quỹ nhà nước; song xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu thập ổn định, không có tài sản, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, nên cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Về Vật chứng: Đối với 246,2kg pháo được hoàn lại sau giám định (gồm: 04 bao tơ dứa và 02 thùng cát tông bên trong có chứa pháo đều được niêm phong bằng các chữ ký). Đây là tang vật của vụ án thuộc diện cấm lưu hành, do vậy cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động Itel, đây là công cụ bị cáo sử dụng để liên lạc vận chuyển hàng cấm, do vậy cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với 01 ví da màu đen; cùng số tiền 800.000đ tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam, đây là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến vụ án, do vậy cần trả lại bị cáo Bình, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Các vấn đề khác: Đối với các đối tượng Nguyễn Văn N (tức T); đối tượng Hà Văn Q và đối tượng nhận pháo ở khu vực Hà Nội (có số điện thoại 0988.616.861) là những đối tượng có liên quan đến hành vi vận chuyển pháo của B, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng hiện tại các đối tượng trên không có mặt tại địa phương. Ngoài lời khai của B thì không còn tài liệu nào khác chứng minh các đối tượng này có liên quan, Cơ quan điều tra đã tách hành vi của các đối tượng trên để tiếp tục xác minh, khi nào xác minh được sẽ xử lý sau.

Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 12C-001.43 qua điều tra xác định là tài sản của anh Hà Văn K, khi B thuê xe không nói cho anh K biết là để đi chở pháo. Ngày 07/8/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lạng Giang đã trả lại cho anh K 01 xe ô tô 12C-001.43; 01 đăng ký xe ô tô 12C-001.43; 01 giấy chứng nhận kiểm định, anh K đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì khác.

Ngoài ra, tại Cơ quan điều tra Nguyễn Xuân B còn thừa nhận ngày 14/6/2019, N thuê B vận chuyển 01 chuyến pháo xuống khu vực Hà Nội giao cho khách. Tuy nhiên, ngoài lời khai của B, Cơ quan điều tra không còn tài liệu nào khác để xử lý đối với B về hành vi này.

Bị cáo Nguyễn Xuân B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân B phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

* Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Điều 292; 299; 326; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Xử phạt Nguyễn Xuân B 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được khấu trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2019 đến ngày 19/7/2019 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

* Vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 246,2kg pháo được hoàn lại sau giám định (gồm: 04 bao tơ dứa và 02 thùng cát tông bên trong có chứa pháo đều được niêm phong bằng các chữ ký).

Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Itel

Trả lại bị cáo B 01 ví da màu đen; cùng số tiền 800.000đ tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

2/ Án phí: Áp dụng Điều 21; 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Bị cáo Nguyễn Xuân B phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án vắng mặt.

Án xử sơ thẩm công khai./.

Cỡ chữ