- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 104/2019/HS-PT Ngày: 19/8/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Lam
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Đình Thông
Bà Hồ Đức Quang
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 78/2019/HS-PT ngày 10 tháng 6 năm 2019 đối vớ
ần Thị T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2019/HS-ST ngày 06/5/2019 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Thị T; sinh ngày: 07/3/1975; nơi sinh: huyện Thạch H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: thôn Hòa M, xã Tượng S, huyện Thạch H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Đình T (đã chết) và bà Đậu Thị N; chồng: Dương Đình N; con: 02 đứa (lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2000); tiền sự: không; tiền án: có 04 tiền án: ngày 22/01/2014 bị TAND thành phố H xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 03/2014/HSST. Thi hành án phạt tù tại trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh đến ngày 01/05/2014 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 29/07/2016 bị TAND tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 100/2016/HSPT. Thi hành xong án phạt tù tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh đến ngày 23/09/2016 chấp hành xong án phạt tù; ngày 28/11/2016, bị TAND huyện Thạch H xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 35/2016/HSST. Thi hành án phạt tù tại Trại giam Đồng Sơn, tỉnh Quảng Bình đến ngày 13/07/2017 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 07/6/2018 bị TAND huyện Thạch H xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 17/2018/HSST. Thi hành án phạt tù tại Trại tạm giam số 6, tỉnh Nghệ An đến ngày 01/01/2019 chấp hành xong án phạt tù; nhân thân: ngày 03/4/2018 bị Công an phường Nam H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh ra quyết định số 05 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, bằng hình thức phạt tiền; ngày 23/10/2008 bị Công an phường Tân G, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh ra quyết định số 07 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, bằng hình thức phạt tiền; ngày 16/6/2019 bị UBND tỉnh Hà Tĩnh ra quyết định số 1786 đưa vào cơ sở giáo dục, thời gian 18 tháng; ngày 19/4/2011 bị Công an phường Nam H, thành phố H ra quyết định số 30 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, bằng hình thức phạt tiền; ngày 27/6/2013 bị Công an phường Nam H, thành phố H ra quyết định số 10 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, bằng hình thức cảnh cáo; ngày 27/4/2015 bị Công an phường Nam H, thành phố H ra quyết định số 651 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, bằng hình thức phạt tiền; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/01/2019 cho đến nay tại xã Tượng S, huyện Thạch H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không liên quan đến kháng cáo nên tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 16/01/2019, Trần Thị T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Super Dream, biển kiểm soát 38F9-5987 của ông Dương T từ nhà ở xã Tượng S, huyện Thạch H, tỉnh Hà Tĩnh vào thành phố Hà T, tỉnh Hà Tĩnh để mua sơn. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, T tới của hàng số 246 đường Vũ Q thuộc khối phố Hòa L, phường Thạch L, thành phố Hà của bà Nguyễn Thị H hỏi mua sơn. Bà H tư vấn giá cả các loại sơn cho T một lúc thì T hẹn sẽ quay lại mua sơn sau, bà H đồng ý và đi vào trong nhà. T quan sát thấy cửa hàng không có ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T lén lút lấy trộm 02 thùng sơn hãng MESSI, mã số MS6.6NO của bà H mang ra để ở trước xe mô tô rồi điều khiển xe đi về nhà. Đi được một đoạn vì xe khó di chuyển nên T dừng xe, chuyển 02 thùng sơn ra phía sau yên xe dùng dây cao su có sẵn ở xe buộc lại rồi tiếp tục điều khiển xe đi. Bà Nguyễn Thị H sau khi phát hiện mất trộm sơn đã trình báo sự việc đến công an phường Thạch L, thành phố H. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang điều khiển xe mô tô di chuyển trên đường Vũ Q, thành phố H thì bị Công an phường Thạch L, thành phố H kiểm tra mời về trụ sở để làm việc và T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kết luận định giá tài sản số 23/KLĐG ngày 28/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND TP.H xác định: 02 thùng sơn nhãn hiệu MESSI có mã số MS6.6NO đang còn nguyên vẹn, hình trụ có đường kính 18cm, cao 24cm, trọng lượng mỗi thùng là 5,7 kg trị giá 1.206.000đ.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 29/2019/HS-ST ngày 06/5/2019, Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Trần Thị T 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Ngày 7/5/2019, bị cáo Trần Thị T làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã quy kết, vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tại phiên tòa sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét kháng cáo của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS, xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm:
Về nội dung:
Căn cứ vào lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 16/01/2019, tại cửa hàng số 246 đường Vũ Q thuộc phường Thạch L, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, Trần Thị T đã lấy trộm 02 thùng sơn nhãn hiệu MESSI đang còn nguyên vẹn tổng trị giá 1.206.000đ của bà Nguyễn Thị H với mục đích đưa về nhà để sử dụng. Mặc dù giá trị tài sản của bị cáo chiếm đoạt dưới 2.000.000đ tuy nhiên bị cáo đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, là tình tiết định tội đối với bị cáo.
Với hành vi nêu trên, Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh đã xét xử bị cáo Trần Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng sự sơ hở của bị hại để thực hiện hành vi trộm tài sản, thể hiện sự liều lĩnh, táo bạo, xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân, được pháp luật bảo vệ. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án, xử phạt hình chính về hành vi trộm cắp tài sản, điều đó thể hiện rằng bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện cải tạo bản thân, mà luôn coi thường pháp luật, vi phạm đạo đức, xã hội, do đó cần xét xử nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có xuất trình được đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại, đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tiền án nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 08 tháng tù là đã phù hợp. Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSPT theo quy định của pháp luật do kháng cáo không được chấp nhận.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị T.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 29/2019/HS-ST ngày 06/5/2019 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh.
Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Trần Thị T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình sự 2015; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án buộc bị cáo Trần Thị T phải nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - PV 06 – Công an tỉnh Hà Tĩnh - TA, CA, VKS, THA sơ thẩm; - Bị cáo kháng cáo; - Lưu hồ sơ, THS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Lam |