vanban.org

Bản án 104/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

luật tố tụng dân sự.

Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị T đối với anh Nguyễn Thanh Q. [1] Về hôn nhân: chị Trần Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Q. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Trần Thị Thuý yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Thanh Quang"
  • Tòa quyết gì? luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUYÊN MỘC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bản án số: 104/2019/HNGĐ-ST.
Ngày: 23/8/2019.
V/v: “ Yêu cầu ly hôn ”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC – TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Tuấn.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Đình Luật.

Bà Đoàn Thị Mến.

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Lệ Hằng – Thư ký tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện XM tham gia phiên toà: bà Phạm Thị Lệ Thuỷ – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện XM, xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân – gia đình thụ lý số: 06/2019/TLST – HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2019, về việc: “ Yêu cầu ly hôn ”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày: 18/7/2019, quyết định hoãn phiên toà số: 86/2019/QĐST – HNGĐ ngày: 06/8/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Trần Thị T, sinh năm: 1974 – ( Có mặt ).

HKTT: tổ 3, ấp 4B, xã HH, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Bị đơn: Nguyễn Thanh Q, sinh năm: 1973 – ( Vắng mặt ).

HKTT: tổ 1, ấp 4B, xã HH, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 04/01/2019, bản khai, biên bản về việc không tiến hành hoà giải được trong quá trình tố tụng tại Tòa án, và tại phiên toà. Nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày: chị T kết hôn với anh Q vào tháng 7/1997, có đăng ký kết hôn tại UBND xã HH, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Trước lúc kết hôn có tìm hiểu nhau, có tổ chức lễ cưới, gia đình hai bên đều biết và đồng ý. Việc kết hôn của anh chị là hoàn toàn tự nguyện không có ai mai mối, ép buộc.

Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc với nhau đến năm 2000 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường cãi lộn, xúc phạm lẫn nhau. Mặc dù vợ chồng đã dàn xếp, hoà giải với nhau nhiều lần nhưng không được. Vì vậy, từ năm 2000 cho đến nay vợ chồng đã sống ly thân nhau, hai bên không còn quan hệ gì với nhau nữa cả về tình cảm lẫn kinh tế.

Đến nay xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên chị T yêu cầu ly hôn với anh Q.

Về con chung: có 01 con chung là: Nguyễn Thị Thuỳ T, sinh ngày: 16/3/1998, hiện nay đã trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Tại phiên toà hôm nay chị T vẫn giữ nguyên ý kiến: Yêu cầu ly hôn với anh Q, có 01 con chung đã trưởng thành. Tài sản chung và nợ chung: không có.

Anh Nguyễn Thanh Q dù đã được toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt.

Tại phiên toà hôm nay anh Q vẫn vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ.

Quan điểm của vị đại diện VKS tham gia phiên toà: Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán và HĐXX: thẩm phán và HĐXX đã tuân thủ đúng theo những quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án. Tuy nhiên, thời hạn giải quyết vụ án còn kéo dài mà không có quyết định gia hạn thời hạn xét xử là chưa đúng.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành theo sự triệu tập của Toà án dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần là chưa chấp hành pháp luật, chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự: Yêu cầu của chị T là có căn cứ, đề nghị HĐXX xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng, việc chấp hành pháp luật và yêu cầu của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: chị Trần Thị T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị T ly hôn với anh Nguyễn Thanh Q. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Anh Q đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên áp dụng điểm b khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh Q.

Về nội dung: Hôn nhân giữa chị T và anh Q là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định ( Bút lục số: 07 ) nên là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị T trình bày là: do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường cãi lộn, xúc phạm lẫn nhau. Mặc dù vợ chồng đã dàn xếp, hoà giải với nhau nhiều lần nhưng không được. Vì vậy, từ năm 2000 cho đến nay vợ chồng đã sống ly thân nhau, hai bên không còn quan hệ gì với nhau nữa cả về tình cảm lẫn kinh tế.

Đến nay xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên chị T yêu cầu ly hôn với anh Q.

Điều này cũng phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương ( Bút lục số: 29 ). Điều đó chứng tỏ: giữa chị T và anh Q không còn yêu thương, tôn trọng, chia sẻ lẫn nhau. Làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc chị T yêu cầu ly hôn với anh Q là có căn cứ, nên chấp nhận yêu cầu của chị T. Về hôn nhân chị T được ly hôn với anh Q.

Về con chung: có 01 con chung là: Nguyễn Thị Thuỳ T, sinh ngày: 16/3/1998, hiện nay đã trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: chị T trình bày không có nhưng anh Q vắng mặt nên không kiểm chứng được lời trình bày của chị T có đúng hay không, nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này hai bên có tranh chấp về vấn đề này thì khởi kiện bằng vụ án dân sự khác theo quy định.

Về án phí: Do là nguyên đơn nên chị T phải chịu án phí theo quy định.

Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ

luật tố tụng dân sự.

Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị T đối với anh Nguyễn Thanh Q.

[1] Về hôn nhân: chị Trần Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Q.

[2] Về con chung: có 01 con chung là: Nguyễn Thị Thuỳ T, sinh ngày: 16/3/1998, hiện nay đã trưởng thành.

[3] Về án phí: chị T phải nộp 300.000Đ ( Ba trăm ngàn ) án phí HNGĐST nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000Đ ( Ba trăm ngàn ) mà chị T đã nộp theo biên lại thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0006544 ngày 04/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện XM. Chị T đã nộp đủ án phí.

[5] Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (những người vắng mặt tại phiên toà thời hạn trên được tính từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án) để yêu cầu TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ