vanban.org

Bản án 104/2019/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa ông Lê Văn Th với bà Phạm Hồng Kh"
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 16-10-2019
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hoàng Giang.

Bà Nguyễn Kim Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 16 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 278/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Văn Th, sinh năm 1982 (có mặt).

- Bị đơn: Bà Phạm Hồng Kh, sinh năm 1982 (có mặt).

Cùng trú tại: Ấp S , xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 09 tháng 8 năm 2019 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lê Văn Th trình bày: Ông và Phạm Hồng Kh tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1999, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc, tuy nhiên sau một quá trình chung sống giữa ông và bà Kh xảy ra mâu thuẩn, bất đồng quan điểm thường xuyên xảy ra cự cải. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Phạm Hồng Kh. Về con chung: Trong quá trình chung sống ông và bà Kh có hai người con chung tên Lê Yến Nh, sinh ngày 17 tháng 02 năm 2000 và Lê Trung T, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2003. Ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Lê Trung T, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Riêng Lê Yến Nh đã trưởng thành tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản hòa giải ngày 11 tháng 9 năm 2019 và tại phiên tòa bị đơn bà Phạm Hồng Kh trình bày: Bà thừa nhận lời trình bày của ông Lê Văn Th về thời gian xác lập quan hệ vợ chồng, việc không có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như mâu thuẫn giữa vợ chồng là đúng. Bà đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông Th. Về con chung, có hai người đúng như ông Th đã trình bày. Bà đồng ý giao người con chung tên Lê Trung T cho ông Th trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con. Riêng Lê Yến Nh đã trưởng thành tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu giải quyết. Tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Văn Th yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Phạm Hồng Kh, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Văn Th và bà Phạm Hồng Kh tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1999 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa ông Th và bà Kh không được pháp luật thừa nhận. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Lê Văn Th và bà Phạm Hồng Kh.

Về con chung: Trong quá trình chung sống ông Th và bà Kh có hai người con chung tên Lê Yến Nh, sinh ngày 17 tháng 02 năm 2000 và Lê Trung T, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2003. Đối với Lê Yến Nh đã trưởng thành tự lao động nuôi sống bản thân nên không xem xét. Ông Th yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Lê Trung T. Tại phiên tòa bà Kh đồng ý giao Lê Trung T cho ông Th trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy sự thỏa thuận giữa ông Th và bà Kh là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của luật và phù hợp với nguyện vọng của người con chung thể hiện tại bản tự khai ngày 09 tháng 8 năm 2019 của Lê Trung T nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của ông Th và bà Kh, giao người con chung tên Lê Trung T, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2003 cho ông Lê Văn Th trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Kh có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Ông Th không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung ông Lê Văn Th và bà Phạm Hồng Kh không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm ông Th phải chịu 300.000đ, ông Th đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ được chuyển thu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điề u 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 9, Điều 14; Điều 15; Điều 53; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Lê Văn Th và bà Phạm Hồng Kh.

- Về quyền nuôi con chung: Giao người con chung tên Lê Trung T, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2003 cho ông Lê Văn Th trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Kh có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Về án phí: Ông Lê Văn Th phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0019357 ngày 12 tháng 8 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; ông Th đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm , các đương sự có quyền kháng cá o bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ