vanban.org

Bản án 104/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 29/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu huỷ Một phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, được đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, có các chữ ký, chữ viết của N…

Hiện số tang vật và tài sản đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố H theo biên bản giao nhận vật chứng số 119/THA ngày 07/5/2018 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H với Công an thành phố H. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trọng Anh phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu huỷ Một phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, được đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, có các chữ ký, chữ viết của N…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2018/HSST
Ngày: 29-5-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Loan

Ông Trịnh Xuân Tính

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mơ - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 184/2018/HSST, ngày 13 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2018 /QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Trọng A, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện X, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Trọng Đ, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1960; Chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 23/10/2015 bị Công an thành phố H, tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 18/01/2018 đến ngày 24/01/2018 chuyển tạm giam, hiện đạng bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 14h30 phút ngày 18/01/2018, tổ công tác tuần tra Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường T, phường L, thành phố H thì phát hiện bắt quả tang Lê Trọng A đang cất giấu trong người 01 gói nilong màu trắng, kích thước khoảng (2x2)cm, A đã tự giác giao nộp

1 cho cơ quan điều tra và khai nhận đó là ma túy đá đang tàng trữ nhằm mục đích sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản và thu giữ tang vật.

Tại kết luận giám định số 330/MT-PC54 ngày 21/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa đã kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng trọng lượng 0,484g, loại Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra, Lê Trọng A khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy, nên khoảng 14h ngày 18/01/2018, Lê Trọng A đi xe ôm lên thành phố H để mua ma túy đá về sử dụng thì gặp Mai Văn T ở thôn G là người quen nên A đã nhờ T chở lên thành phố H có việc. T đồng ý và giao xe mô tô BKS 93P1-502.40 cho A điều khiển còn T ngồi đằng sau. Khi đi đến đường Nguyễn Huy T, phường L, thành phố H, A dừng xe lại và một mình đi vào ngõ 70 đường L, phường Đ, thành phố H. A gặp một người phụ nữ và hỏi mua ma túy. Người phụ nữ đó đã bán cho A một gói ma trúy với giá 300.000đ. A bỏ gói ma trúy vào túi quần bên trái rồi đi ra chỗ T đứng đợi, sau đó chở T đi về nhà để sử dụng. Khi đi đến đoạn đường Nguyễn Huy T thì bị tổ công tác Công an thành phố H kiểm tra phát hiện, bắt quả tang và thu giữ tang vật.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Lê Trọng A, A khai báo tên là H. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, triệu tập và đối chất với chị Đỗ Thị S ở ngõ 70, đường L, phường Đ (Tên gọi khác là H). Qua đối chất, chị H không thừa nhận đã bán ma túy cho Lê Trọng A và A cũng khẳng định người phụ nữ bán ma túy cho A không phải là chị H. Cơ quan điều tra cũng không có tài liệu nào để chứng minh chị H là người bán ma túy cho A nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Mai Văn T là người Lê Trọng A nhờ đưa lên thành phố H nhưng T không biết A đi mua ma túy để sử dụng nên không có căn cứ để xử lý.

Tại cáo trạng số 101/CT-VKS, ngày 10/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố Lê Trọng A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Tuyên bố bị cáo Lê Trọng A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Trọng A mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù và đề nghị xử lý vật chứng.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng sự khoan hồng với mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

2

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Trọng A thừa nhận: Khoảng 13h30 phút ngày 18/01/2018, tại đường Nguyễn Huy T, phường L, thành phố H, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H đã phát hiện, bắt quả tang Lê Trọng A đang tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Theo kết luận giám định tang vật thu giữ trong người Lê Trọng A là ma túy trọng lượng 0,484g, loại Methamphetamine.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Quyết định truy tố và lời luận tội của Viện Kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Lê Trọng A phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét tính chất vụ án: Bị cáo biết rõ ma túy là những tệ nạn nguy hiểm cho xã hội, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của nhiều gia đình. Ma túy đã làm kiệt quệ về sức khỏe và tài sản, là nguyên nhân làm gia tăng tội phạm, gây lan truyền căn bệnh HIV/ADS. Do nghiện ma túy nên bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về các chất gây nghiện của Nhà nước và còn gây mất trật tự trị an xã hội. Bản thân bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục vi phạm.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra truy tố và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Với tính chất vụ án nghiêm trọng, với nhân thân của bị cáo, xét cần thiết phải

cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như vậy mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Do bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,456g Methamphetamine (còn lại sau giám định) là mặt hàng Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

3

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên bố: Lê Trọng A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Lê Trọng A 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/01/2018.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu huỷ Một phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, được đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, có các chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đ, Nguyễn Bá S và Lưu Bình Ng. Bên trong chứa 0,456g ma túy, loại Methamphetamine (còn lại sau giám định).

Hiện số tang vật và tài sản đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố H theo biên bản giao nhận vật chứng số 119/THA ngày 07/5/2018 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H với Công an thành phố H.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14.

Bị cáo Lê Trọng A phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ