vanban.org

Bản án 104/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 24/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ng Tr G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ng Tr G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2018/HSST
Ngày: 24/7/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Minh Thu;

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Anh và ông Trần Hùng Mạnh

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 24/7/2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 109/2018/HSST ngày 10 tháng 7 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2018/HSST ngày 12 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Ng Tr G, sinh năm 1976; nơi ĐKHKTT: Na Dương Phố 1, Thị trấn Na Dương, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học văn hóa: Lớp 4/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nông Thanh Q (đã chết); con bà: Tô Thị B, sinh năm 1950; Vợ: Trịnh Thị P, sinh năm 1981; Có 01 con sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt quả tang ngày 30/4/2018, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hà V Ch, sinh năm 1989; nơi ĐKHKTT: Thôn 10, xã Minh Xuân, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00h10 phút ngày 30/04/2018, Hà V Ch sử dụng số điện thoại 0977082380 gọi đến số điện thoại 01674924962 của Ng Tr G và hỏi mua của Giang 01 gói ma túy đá, Giang đồng ý và thỏa thuận bán cho Ch với giá 350.000 đồng, địa điểm giao dịch mua bán ma túy là công trường Ciputra, phường Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm - nơi Ch đang làm công nhân. Sau đó, Giang sử dụng số điện thoại 01674924962 gọi đến số 01642699291 của Hùng (hiện không xác định được nhân thân, lai lịch) hỏi mua 01(một) gói ma túy đá với giá 280.000 đồng và thỏa thuận giao dịch mua bán ma túy tại khu vực cổng Công viên Hòa Bình, phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm. Giang điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 12L1-137.56 (xe của Giang) đến gặp Hùng ở cổng công viên Hòa Bình (khu vực đầu đường Đỗ Nhuận) và mua của Hùng 01(một) gói ma túy đá được gói bằng nilon màu trắng với giá 280.000 đồng rồi Giang cầm gói ma túy trên tay trái và điều khiển xe máy đi vào công trường Ciputra để bán ma túy cho Ch. Khi Giang đến gần lán xây dựng Ch đang ở, cách khoảng 5m, Giang dừng xe và định lấy điện thoại gọi cho Ch ra để giao dịch mua bán ma túy thì bị tổ công tác công an phường Đông Ngạc kiểm tra hành chính, thu giữ trên tay trái Giang 01 gói nilon chứa tinh thể màu trắng Giang khai là ma túy đá. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng:

Thu giữ của Ng Tr G:

- 01 (một) túi nilong bên trong có chứa tinh thể màu trắng;

- 01(một) điện thoại Nokia 105 màu đen có số sim 01674924962;

- 01 (một) xe máy Honda Wave Anpha màu cam, BKS: 12L1-137.56, số khung: 125XFY387711, số máy: HC12E7387768;

Thu giữ của Hà V Ch:

- 01 điện thoại FPT màu trắng có số sim 0977082380.

Tại bản kết luận giám định số 3919/KLGĐ - PC54 ngày 8/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,073 gam”.

Quá trình điều tra, Ng Tr G khai nhận hành vi của mình như trên.

Hà V Ch khai lần đầu mua ma túy của Giang, mục đích Ch mua ma túy về để sử dụng. Do Ch chưa mua được ma túy và xét nghiệm nước tiểu xác định Ch chưa sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với đối tượng “Hùng” bán ma túy cho Ng Tr G: kết quả rút list số điện thoại 01642699291 của “Hùng” qua lời khai của Giang xác định: thuê bao trên chưa đăng ký thông tin chủ sở hữu; quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không xác định được nên không có căn cứ để điều tra mở rộng.

Đối với xe máy Honda Wave Anpha màu cam, BKS: 12L1-137.56, số khung: 125XFY387711, số máy: HC12E7387768 thu giữ của Ng Tr G: Giang khai là xe do Giang mua và đăng ký tên Giang; tra cứu tại phòng PC 67 Công an TP Hà Nội xác định đăng ký chủ xe là Ng Tr G.

Tại bản cáo trạng số: 103/CT-VKS ngày 03 tháng 7 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Ng Tr G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm giữ nguyên quyết định của bản cáo trạng đã truy tố, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo mức án từ 24 đến 30 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Ng Tr G khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng được thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Hồi 00 giờ 45 phút ngày 30/04/2018, tổ công tác Công an phường Đông Ngạc phát hiện, bắt quả tang Ng Tr G có hành vi tàng trữ trái phép 0,073 gam ma túy Methamphetamine để bán cho Hà V Ch tại khu vực công trường Ciputra, thuộc tổ dân phố Nhật Tảo 4, phường Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Hành vi mua ma túy về bán trái phép cho người khác của bị cáo đã phạm tội“Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến Chnh sách phòng ngừa, ngăn chặn và kiểm soát tệ nạn ma tuý. Bị cáo biết ma túy tác hại xấu đến sức khỏe của con người, biết pháp luật nghiêm cấm. Chỉ vì tư lợi, bị cáo đã coi thường pháp luật, tiếp tay cho tệ nạn ma túy, không những gây mất trật tự xã hội mà còn là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Nên cần áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, gia đình có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, nên hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ:

- 01 phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy Methamphetamine đã giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Ng Tr G và giám định viên thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại Nokia 105 màu đen, đã qua sử dụng, số thuê bao 01674924962; 01 điện thoại FPT màu trắng, đã qua sử dụng, số thuê bao 0977082380; 01 xe máy Honda Wave Anphal màu cam, đăng ký xe tên Ng Tr G, BKS: 12L1 - 137.56, số khung:125XFY387711, số máy: HC 12E7387768 là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Ng Tr G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

3. Xử phạt bị cáo Ng Tr G 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/4/2018.

4. Vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy Methamphetamine đã giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Ng Tr G và giám định viên;

Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

- 01 điện thoại Nokia 105 màu đen, đã qua sử dụng, số thuê bao 01674924962;

- 01 điện thoại FPT màu trắng, đã qua sử dụng, số thuê bao 0977082380;

- 01 xe máy Honda Wave Anphal màu cam, đăng ký xe tên Ng Tr G, BKS: 12L1 - 137.56, số khung: 125XFY387711, số máy: HC 12E7387768.

(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 128/18 ngày 05 tháng 7 năm 2018 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm).

5. Về án phí và quyền kháng cáo:

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ