- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 104/2018/HS-ST ngày 27/09/2018 của TAND thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đối với Trần Tấn T về tội “Vi phạm quy định về điều kh…"
- Tòa quyết gì? sửa đổi, bổ sung năm 2009, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 104/2018/HS-ST Ngày 27 / 9 / 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Chí Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Thành Thật;
Ông Đỗ Trọng Ngoan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Bích.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Toản - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long
Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2018/TLST-HS
ngày 13 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
90/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa
số: 28/2018/HSST-QĐ ngày 07 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Trần Tấn T, sinh năm 1978, tại tỉnh Vĩnh Long; nơi đăng ký hộ khẩu thường
trú: ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hoá
(học vấn): 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Đặng Thị B; có vợ là Lý Thị C và 02
con sinh năm 2012, năm 2017;
Tiền án, tiền sự: chưa;
Bị bắt tạm giam từ ngày 21/3/2018 cho đến nay; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hứa Hoàng C là Luật sư Văn phòng
Luật sư Hứa Hoàng C, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; có mặt.
- Bị hại: Bà Võ Thị Kim H, sinh năm 1955; địa chỉ: số A, khóm T, phường
M, thành phố L, tỉnh An Giang (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Ông Lê Văn K, sinh năm 1950; địa chỉ: số A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; là chồng của bị hại; vắng mặt.
+ Ông Lê Minh L, năm 1984; địa chỉ: số A, khóm T, phường M, thành phố
L, tỉnh An Giang; là con của bị hại; có mặt.
+ Bà Lê Thị Dạ T, sinh năm 1977; địa chỉ: số A, khóm T, phường M, thành
phố L, tỉnh An Giang; là con của bị hại; vắng mặt.
+ Bà Lê Thị Thúy D, sinh năm 1980; địa chỉ: số A, khóm T, phường M,
thành phố L, tỉnh An Giang; là con của bị hại; vắng mặt.
+ Bà Lê Thị T, sinh năm 1988; địa chỉ: số A, khóm T, phường M, thành
phố L, tỉnh An Giang; là con của bị hại; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Bà Ngô Thị S, sinh năm 1963; địa chỉ: số A, khóm T, phường M, thành
phố L, tỉnh An Giang; vắng mặt.
+ Bà Phan Thị B, sinh năm 1973; địa chỉ: ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An
Giang; vắng mặt.
+ Công ty Cổ phần Đầu tư, xây dựng và thương mại Q (sau đây được viết
tắt là Công ty Q); địa chỉ: Lô A, khu công nghiệp quận H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của Công ty Q: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1988;
địa chỉ: thôn N, xã Q, huyện P, thành phố Hà Nội; là người đại diện theo ủy quyền (theo giấy ủy quyền số 1095/UQ-ICT ngày 02/12/2017 của Tổng Giám đốc Công ty Q); có mặt.
+ Tổng Công ty Bảo hiểm B; địa chỉ trụ sở chính: số A, đường Trần Hưng
Đ, phường C, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của Tổng Công ty Bảo hiểm B: Ông Phạm Hồng
N, sinh năm 1978; chức vụ: Phó Trưởng phòng Phòng Nghiệp vụ Công ty B; địa chỉ: số A, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; là người đại diện theo ủy quyền (theo giấy ủy quyền số 8111/UQ-BHHV của Tổng Giám đốc Tổng Công ty Bảo hiểm B); có mặt.
- Người làm chứng: Ông Võ Văn H; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 02/12/2017, bà Ngô Thị S điều khiển xe mô
tô biển số 67AF-021.26 chở bà Võ Thị Kim H trên đường T, phường M, thành phố L theo hướng L – V. Khi vào ngã tư giao nhau với đường L có đèn tín hiệu (lúc này đèn tín hiệu màu xanh) thì bị xe ô tô xitec biển số 29T-3693 do Trần Tấn T điều khiển cùng chiều vượt lên bên trái. Do thiếu quan sát nên góc đầu bên phải của xe ô tô do T điều khiển va vào phần sau bên trái của xe mô tô đẩy đi một đoạn
làm xe mô tô cùng bà S và bà H ngã xuống đường. Bà H bị bánh trước bên trái xe
ô tô cán qua người. Hậu quả bà S bị sây sát nhẹ, còn H bị thương nặng được T
đưa đến Bệnh viện Đa khoa trung tâm A cấp cứu, đến 15 giờ 30 phút cùng ngày
thì chết.
* Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày
02/12/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên, ghi
nhận như sau:
- Hiện trường được xác định hướng L– V. Điểm cố định là trụ điện số 2-
4/25 bên phải hướng L– V.
- Xe ô tô tải biển số 29T-3693 đầu xe hướng về V, đuôi xe hướng về L, trục
bánh trước bên phải cách mép đường bên phải 04m88, trục bánh sau bên phải
cách mép đường bên phải 04m95.
- Xe mô tô biển số 67AF-021.26 ngã sang phải, đầu xe hướng về L hơi xéo
về mép đường bên phải, đuôi xe hướng về V hơi xéo về mép đường bên trái, trục
bánh trước cách mép đường bên phải 04m70, trục bánh sau cách mép đường bên
phải 05m26 và cách trục bánh sau xe ô tô 29T-3693 03m50.
* Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày
06/12/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên đối
với xe ô tô xitec biển số 29T-3693, ghi nhận:
- Góc đầu xe bên phải được sơn màu xanh dương có vết ma sát lau sạch bụi
nằm ngang phạm vi 11 x 0,4cm, điểm cao nhất cách mặt đất 109cm, điểm thấp
nhất cách mặt đất 107cm;
- Chắn bùn trước bên phải có vết ma sát lau sạch bụi, phạm vi 20 x 0,1cm,
điểm cao nhất cách mặt đất 95,5cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 77,5cm;
- Chắn bùn trước bên phải có vết lau sạch bụi, chiều hướng từ trước ra sau
phạm vi 17 x 02cm, tâm cách mặt đất 112cm, cách trục bánh trước bên phải 78cm.
* Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày
06/12/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên đối
với xe mô tô biển số 67AF-021.26, ghi nhận:
- Gương chiếu hậu bên trái bị cong từ trước ra sau, từ dưới lên trên, mặt
gương quay ngược về phía trước, vành gương chiếu hậu có dính vết màu xanh
dương phạm vi 3,3 x 0,1cm.
* Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 389/17/TT ngày 02/12/2017
của Trung tâm Pháp y tỉnh A đối với tử thi Võ Thị Kim H, sinh năm 1955, ghi
nhận như sau:
- Dập thùy dưới phổi phải, dập thùy dưới phổi trái;
- Gãy cung trước xương sườn V, VI, VII phải, gãy cung bên xương sườn
IV, V, VI, VII phải;
- Gẫy cành mu phải xương chậu;
- Vỡ ngang đốt sống L4 – L5, vở đôi;
- Vỡ đôi, đứt cuống thận phải;
Nguyên nhân chết: Sốc đa chấn thương: vỡ đôi đứt cuống thận phải, mảng
sườn di động IV, V, VI, VII, gãy cành mu phải xương chậu, dập thùy dưới hai phổi.
* Kết luận định giá tài sản số 45/KL.HĐ ngày 04/6/2018 của của Hội đồng
Định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L, xác định: Xe mô tô biển số 67AF-021.26 bị hư hỏng, thiệt hại 1.119.250 đồng.
Sau khi khám nghiệm hiện trường, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ
đoạn camera an ninh gắn trên đường L ghi lại vụ tai nạn trên.
Tại Cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 12 tháng 7 năm 2018, Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Trấn Tấn T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa,
- Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng
truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại ông Lê Minh L, người đại diện hợp
pháp của Công ty Q ông Phạm Văn H và người làm chứng ông Võ Văn H cung cấp lời khai như đã khai trong giai đoạn điều tra.
- Người đại diện hợp pháp của Tổng Công ty Bảo hiểm B ông Phạm Hoàng
N khai, Công ty Q có mua bảo hiểm xe ô tô biển số 29T-3693 tại Công ty B Hà Nội thuộc Tổng Công ty Bảo hiểm B theo giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô số 003358072 ngày 22/8/2017 của Công ty B Hà Nội.
Bên cạnh đó, ông N, ông H, bị cáo cùng thống nhất, việc chi trả bảo hiểm
sẽ do các bên thương lượng giải quyết, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết trong cùng vụ án.
- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa
phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” được quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo không những gây tổn thất cho gia đình bị hại mà còn
gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Cho nên, cần xử phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị
hại để khắc phục hậu quả; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn
trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự và nhân thân của bị cáo, việc xử phạt bị cáo bằng thời gian tạm giam cũng đảm
bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm
1999, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015
xử phạt bị cáo hình phạt tù bằng thời hạn tạm giam bị cáo là 06 tháng 11 ngày tù.
Về trách nhiệm dân sự, do người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu
cầu bồi thường thêm; bị cáo, người đại diện hợp pháp của Công ty Q, người đại
diện hợp pháp của Tổng Công ty Bảo hiểm B không yêu cầu giải quyết vần đề
bảo hiểm trong cùng vụ án nên đề nghị không đề cập giải quyết.
Về xử lý vật chứng, đề nghị giao trả lại giấy phép láy xe hạng C mang tên
Trần Tấn T cho bị cáo.
- Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Thống nhất với đề xuất
về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Kiểm sát viên trình bày.
Tuy nhiên, khi lượng hình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm cho bị cáo các
tình tiết xuất thân từ thành phần lao động nghèo; trước khi sự việc xảy ra, việc
điều khiển xe ô tô, thực hiện công việc của bị cáo không có sai sót; tích cực cứu
chữa cho bị hại, không bỏ trốn sau khi sự việc xảy ra. Do mức hình phạt mà Kiểm
sát viên đề nghị đã thể hiện sự nhận đạo nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị
cáo hình phạt tù bằng thời hạn đã tam giam.
Về trách nhiệm dân sự, do bị cáo, người đại diện hợp pháp của Công ty Q,
người đại diện hợp pháp của Tổng Công ty Bảo hiểm B thống nhất không yêu cầu
giải quyết vần đề bảo hiểm trong cùng vụ án nên đề nghị tách ra để giải quyết
bằng vụ án dân sự khi các bên có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của
Cơ quan điều tra Công an thành phố Long Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Long Xuyên, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình
tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại
phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại
về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm
sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo, bị cáo Trần Tấn T khai nhận, khoảng
11 giờ ngày 02/12/2017, bị cáo điều khiển xe bồn (ô tô xitec) biển số 29T-3693 theo hướng L đi V đến ngã tư, có đèn tín hiệu giao thông. Khi đi ngang qua giao lộ, bị cáo nghe tiếng động, có cảm giác bánh xe bên phải cán lên vật gì đó nên dừng xe lại. Xuống xe, bị cáo thấy có 01 người phụ nữ nằm ở phía sau xe ô tô, phía dưới (về hướng đèn bốn ngọn) có 01 xe mô tô nằm ngã. Đồng thời, có 01 người phụ nữ phía sau chạy đến. Bị cáo ôm người phụ nữ bất tỉnh chở đi cấp cứu nhưng đã chết vào chiều ngày hôm đó. Bị cáo không nhớ, khi điều khiển xe ngang qua giao lộ, đèn tín hiệu màu gì nhưng bị cáo không dừng xe mà chạy thẳng qua ngã tư. Do không chú ý quan sát nên bị cáo điều khiển xe vượt không đúng quy định, ở đường giao nhau, va quẹt với 01 xe mô tô gây tai nạn làm 01 người phụ nữ chết.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn
điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác gồm: lời khai của ông Võ Văn H về việc chứng kiến bị cáo dừng xe ô tô tại khu vực ngã tư đường T, đường L, phía sau có 01 người phụ nữ khoảng 60 tuổi nằm dưới đất bất tỉnh nên kêu bị cáo đưa đi cấp cứu; lời khai của bà Ngô Thị S về việc bà S điều khiển xe mô tô biển số 67AF-021.26 chở bị hại đến khoảng giữa ngã tư đường T, đường L thì bị xe ô tô do bị cáo điều khiển vượt lên trên bên phía trái. Bộ phận dè của bánh trước, bên phải của xe ô tô do bị cáo điều khiển va chạm vào gương chiếu hậu của xe mô tô do bà S điều khiển làm xe mô tô và bà S, bị hại ngã xuống đường. Khi bà S đứng lên thì bị cáo đến đỡ bị hại đưa đi cấp cứu; phù hợp với các hình ảnh được trích từ đoạn camera an ninh gắn trên đường L ghi lại vụ tai nạn giao thông.
Bên cạnh đó, vị trí ngã của xe mô tô biển số 67AF-021.26 do bà S điều
khiển, vị trí đỗ của xe ô tô biển số 29T-3693 do bị cáo điều khiển, các vết cày tại hiện trường được thể hiện tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 02/12/2017 cùng sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, phương tiện vụ tai nạn giao thông kèm theo do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên lập và các dấu vết để lại trên xe mô tô do bà S điều khiển, xe ô tô do bị cáo điều khiển theo các biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 06/12/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên thể hiện vị trí xe ô tô va chạm vào xe mô tô thuộc phần đường bên phải theo hướng lưu thông của 02 xe này với điểm tiếp xúc giữa các xe khi va chạm như bị cáo, bà S, ông H khai.
Đồng thời, bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 389/17/TT ngày
02/12/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh An Giang kết luận bà Võ Thị Kim H chết là do sốc đa chấn thương: vỡ đôi đứt cuống thận phải, mảng sườn di động IV, V, VI, VII, gãy cành mu phải xương chậu, dập thùy dưới hai phổi.
Kết luận định giá tài sản số 45/KL.HĐ ngày 04/6/2018 của của Hội đồng
Định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên, xác định xe mô tô biển số 67AF-021.26 bị hư hỏng, thiệt hại 1.119.250 đồng.
Từ các chứng cứ trên, có cơ sở xác định bị cáo đã có hành vi điều khiển xe
ô tô xitec biển số 29T-3693 vượt xe mô tô biển số 67AF-021.26 không có tín hiệu,
vượt khi có chướng ngại vật phía trước, không giữ khoảng cách an toàn, nơi đường
giao nhau nên đã va chạm vào xe mô tô do bà S điều khiển chở bị hại gây ra tai
nạn làm bị hại bị chết và thiệt hại về tài sản trị giá 1.119.250 đồng. Hành vi của
bị cáo vi phạm quy định về vượt xe được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều
14 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động
giao thông vận tải đường bộ cũng như sự an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài
sản của người khác.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức
được việc lái xe ô tô vượt xe không đảm bảo an toàn là vi phạm quy định về an
toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người
khác nhưng bị cáo vẫn tự tin thực hiện qua diễn biến sự việc và sự thừa nhận của
bị cáo tại phiên tòa. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi
phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” được quy định
tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy
tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Long Xuyên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội
và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vi phạm quy định về an toàn
giao thông đường bộ không những ảnh hưởng đến sự an toàn của hoạt động giao
thông vận tải đường bộ do Nhà nước thiết lập để duy trì sự ổn định và phát triển
xã hội mà còn gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác. Chính
vì vậy, bên cạnh việc xử lý hành chính, pháp luật hình sự còn áp dụng chế tài
nghiêm khắc nhất là hình phạt đối với những người vi phạm an toàn giao thông
đường bộ gây thiệt hại đến tính mạng và gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe,
tài sản của người khác.
Bị cáo được cấp giấy phép láy xe ô tô hạng C. Đáng lẽ, bị cáo phải biết
những nơi cấm vượt xe và khi vượt xe khác phải đảm bảo an toàn nhưng bị cáo
lại vượt xe mô tô do bà S điều khiển, không đảm bảo an toàn nên đã gây tai nạn
làm bị hại chết, thiệt hại về tài sản của người khác. Do đó, cần có hình phạt tương
xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân, trong quá trình
điều tra cũng như trước phiên toà hôm nay, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai
báo. Sau khi gây ra tai nạn, bị cáo đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của
bị hại để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà S. Bên cạnh
đó, trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại có
yêu cầu bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Cho nên, cần áp dụng các tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo. Hơn nữa, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy, cần cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
năm 2015, có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý nên chấp nhận đề xuất của Kiểm sát viên, người bào chữa, không cần thiết tiếp tục cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung, việc bị cáo phạm tội xuất phát từ việc bị cáo hành
nghề vận chuyển, trực tiếp điều khiển xe ô tô. Vì vậy, để tránh nguy hại cho xã hội, cấm bị cáo hành nghề điều khiển xe ô tô trong một thời hạn nhất định theo khoản 5 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Về trách nhiệm dân sự, sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã bồi thường thiệt
hại về tài sản cho bà S 5.000.000 đồng; bồi thường thiệt hại về tính mạng cho người đại diện hợp pháp của bị hại 80.000.000 đồng. Bà S đã bồi thường cho bà B 5.000.000 đồng và bà B đã nhận lại xe mô tô. Công ty Q đã nhận lại xe ô tô. Bà S, bà B, người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện hợp pháp của Công ty Q không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.
Về vấn đề thanh toán bảo hiểm, xe ô tô biển số 29T-3693 được mua bảo
hiểm tại Công ty B Hà Nội thuộc Tổng Công ty Bảo hiểm B theo giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô số 003358072 ngày 22/8/2017 của Công ty B Hà Nội. Bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại về tính mạng, tài sản. Tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của Công ty Q, người đại diện hợp pháp của Tổng Công ty Bảo hiểm B không yêu cầu giải quyết vấn đề bảo hiểm nên không đề cập giải quyết trong cùng vụ án.
Bị cáo, Công ty Q, Tổng Công ty Bảo hiểm B có quyền khởi kiện tranh
chấp việc mua bảo hiểm đối với xe ô tô biển số 29T-3693 theo giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô số 003358072 ngày 22/8/2017 bằng vụ án dân sự theo trình tự, thủ tục tố tụng dân sự khi có tranh chấp.
Về xử lý vật chứng, giấy phép lái xe hạng C số 820124003657 bị thu
giữ là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên giao trả lại cho bị cáo.
Ngoài ra, trong giải đoạn điều tra, Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 xe ô tô
biển số 29T-3693, 01 ốp ca bin phía trước bên phải của xe ô tô biển số 29T-3693, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 00006127, giấy chứng nhận kiểm định số 3097438, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe ô tô số 003358072; 01 xe mô tô biển số 67AF-021.26, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 023217, 01 gương chiếu hậu của xe máy biển số 67AF-021.26; 01 giấy chứng minh nhân dân tên Ngô Thị S số 350695567. Các tài sản, giấy tờ kèm theo, giấy tờ tùy thân đã được Cơ quan điều tra giao trả cho chủ sở hữu, người đứng tên trên giấy tờ tùy thân là phù hợp với quy định tại các khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề cập xử lý lại.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí
hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào các khoản 1, 5 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999, đã được
sửa đổi, bổ sung năm 2009, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ
luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 328 Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2015;
Tuyên bố bị cáo Trần Tấn T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ”;
Xử phạt: Trần Tấn T: 06 (sáu) tháng 11 (mười một) ngày tù (bằng thời gian
bị cáo đã bị tạm giam).
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm
giam ngày 21/3/2018 (ngày hai mươi mốt, tháng ba, năm hai nghìn không trăm
mười tám).
Đến ngày xét xử sơ thẩm, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, trả tự do
cho bị cáo ngay tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Cấm bị cáo hành nghề điều khiển xe ô tô trong thời hạn 01 (một) năm kể
từ ngày tuyên án, ngày 27/9/2018 (ngày hai mươi bảy, tháng chín, năm hai nghìn
không trăm mười tám).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015;
Giao trả cho bị cáo Trần Tấn T 01 (một) giấy phép lái xe hạng C số
820124003657 do Sở Giao thông - Vận tải tỉnh T cấp ngày 09/12/2016.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/7/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát
điều tra Công an thành phố Long Xuyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành
phố L).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Trần Tấn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí
hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, ông Lê Minh L, Tổng Công
ty Bảo hiểm B, Công ty Cổ phần Đầu tư, xây dựng và thương mại Q có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của ông Lê Văn K, bà Lê Thị Dạ T, bà Lê Thị
Thúy D, bà Lê Thị T, bà Ngô Thị S, bà Phan Thị B là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Long Xuyên; - VKSND tỉnh An Giang; - TAND tỉnh An Giang; - Sở Tư pháp; - Nhà Tạm giữ Công an TP. L; - CQTHAHS Công an TP. L; - CQĐT Công an TP. Long Xuyên; - Chi cục THADS TP. L; - Bộ phận THA Tòa án; - UBND cấp xã nơi BC cư trú; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của họ; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Chí Bình |