- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thi Thanh N - Lê Quý Đăng K"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh N đối với ông Lê Quý Đăng K.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 104/2018/HNGĐ-ST Ngày: 12-7-2018 V/v: Tranh chấp về ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Duy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Nguyên
2. Bà Trần Thị Đúng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Đang – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2018 tại phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1215/2017/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2017 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 219/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 ngày 5 tháng 2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 205/2018/QĐST-DS ngày 15 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm: 1995.
Địa chỉ: Số 27 Đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Lê Quý Đăng K, sinh năm 1988;
Địa chỉ: C5/10R ấp 3, xã D, huyện E, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà N có mặt, ông K vắng mặt không có lý do tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn ngày 11/10/2017, bản tự khai ngày 01/11/2017 nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh N trình bày:
Bà và ông Lê Quý Đăng K tự quen biết, tìm hiểu nhau và bắt đầu chung sống từ năm 2012, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện E, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đôi lúc có cãi nhau nhưng mâu thuẫn không lớn, đến đầu năm 2017 thì mâu thuẫn giữa bà và ông K trở nên trầm trọng, nguyên nhân do ông K không lo làm ăn, chăm lo cho gia đình, thường hay đánh mắng vợ con. Bà và ông K đã ly thân với nhau từ tháng 9/2017 cho đến nay. Nay bà không còn tình cảm với ông K, đời sống chung không thể hàn gắn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông K.
Về con chung: Bà và ông K có 01 con chung tên Lê Nguyễn Trọng N1, sinh ngày 15/5/2014. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi trẻ N1, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà N xác nhận trẻ N1 hiện nay đang sống cùng ông K nên bà yêu cầu giao trẻ N1 cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà xác nhận không có.
Ngoài ra, bà không có ý kiến và yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Lê Quý Đăng K vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biếu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến giải quyết vụ án về nội dung như sau:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể:
- Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh N đối với ông Lê Quý Đăng K.
- Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao trẻ Lê Nguyễn Trọng N1, sinh ngày 15/5/2014 cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với bà N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Bà Nguyễn Thị Thanh N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Quý Đăng K. Theo kết quả xác minh của Công an xã D, huyện E xác nhận ông Lê Quý Đăng K có hộ khẩu thường trú và hiện còn sinh sống tại địa chỉ C5/10R tổ 7, ấp 3, xã D, huyện E, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Lê Quý Đăng K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông K theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về quan hệ vợ chồng: Bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Lê Quý Đăng K chung sống có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã D, huyện E, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 52 Quyển số 01/2014 ngày 26/02/2014. Do đó, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông K là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.”
Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “....Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.”
Theo kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân xã D, huyện E, Thành phố Hồ Chí Minh về tình trạng hôn nhân của bà N và ông K cho biết: Bà N và ông K sống ly thân từ tháng 9/2017 cho đến nay. Trong quá trình sinh sống tại địa phương, cuộc hôn nhân của bà N và ông K có nhiều mâu thuẫn, đặc biệt là mâu thuẫn trong vấn đề tiền chạy xe tải. Bà N và ông K có 01 con chung là Lê Nguyễn Trọng N1, sinh năm 2014 và hiện đang sống với ông K.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà N xác nhận bà và ông K chung sống không hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, ông bà đã sống ly thân từ tháng 9/2017 cho đến nay. Mặt khác, ông K đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vẫn không đến Toà án tham gia tố tụng để Toà án hoà giải, động viên hai bên đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Ông K và bà N đã ly thân với nhau từ năm 2017 cho đến nay, điều này chứng tỏ giữa ông K và bà N đã không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được thì cuộc sống chung cũng không còn ý nghĩa. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N đối với ông K.
Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Lê Nguyễn Trọng N1, sinh ngày 15/5/2014.
Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Bà N yêu cầu giao Lê Nguyễn Trọng N1 cho ông K tiếp tục nuôi dưỡng. Ông K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nêu rõ yêu cầu của bà N, nhưng ông K không có văn bản nêu rõ ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà N và ông cũng không đến Tòa án tham dự các buổi hòa giải, phiên tòa xét xử mà vắng mặt. Tòa án căn cứ vào các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án để giải quyết. Theo kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân xã D, huyện E cũng như tại phiên tòa bà N xác nhận hiện nay trẻ N1 đang sống cùng ông K. Do đó, nhằm bảo đảm quyền lợi về mọi mặt cho trẻ N1, Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ N1 cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà N không cấp dưỡng nuôi con. Ông K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nêu rõ yêu cầu của bà N, nhưng ông K không có văn bản nêu rõ ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà N và ông cũng không đến Tòa án tham dự các buổi hòa giải, phiên tòa xét xử mà vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với bà N. Nếu sau này ông K có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà N xác nhận bà và ông K không có tài sản chung và nợ chung. Ông K vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về vấn đề tài sản chung, nợ chung giữa ông với bà N nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề tài sản chung, nợ chung giữa bà N và ông K trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh N chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 19, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh N đối với ông Lê Quý Đăng K.
1.1. Bà Nguyễn Thị Thanh N được ly hôn với ông Lê Quý Đăng K.
1.2. Giấy chứng nhận kết hôn số 52 Quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân xã D, huyện E, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/02/2014 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Bà N và ông K có 01 (một) con chung tên Lê Nguyễn Trọng N1, sinh ngày 15/5/2014.
2.1. Giao trẻ Lê Nguyễn Trọng N1, sinh ngày 15/5/2014 cho ông Lê Quý Đăng K trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với bà N.
2.2. Bà N có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh N chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà bà N đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0030592 ngày 23/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Bà N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; (1) - VKSND H. BC; (2) - Chi cục THADS H.BC; (1) - UBND xã D, huyện E, (1) TPHCM; - Các đương sự; (3) - Lưu: hồ sơ, VT. (3) | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Đỗ Thị Duy Linh |