vanban.org

Bản án 104/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Căn cứ vào khoản 2 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Xử ly hôn giữa chị Lang Thị M và anh Phạm Văn T. 2. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH; Buộc chị Lang Thị M phải chịu 300.000đ án phí DSST nhưng được…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Minh Tư ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Căn cứ vào khoản 2 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH T
Bản án số: 104/2018/HNGĐ - ST

Ngày: 18 - 5 - 2018 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T ,TỈNH T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Trọng Hoành

Ông Lưu Minh Sửu

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hân. Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện T . Ngày 18 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2018/TLST/HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2018 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Lang Thị M; Sinh năm 1994. Có mặt. Địa chỉ: Thôn C xã L, huyện T, tỉnh T. 2. Bị đơn: Anh Phạm Văn T; Sinh năm 1994. Nơi ĐKHKTT: Làng B xã X, huyện T, tỉnh T Hiện nay đã bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân tuyên bố là người mất tích theo Quyết định số 08/2018 ngày 15/3/2018

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai và tại phiên tòa Nguyên đơn là chị Lang Thị M trình bày:

Về hôn nhân: Chị M và anh Phạm Văn T tự nguyện kết hôn đăng ký kết hôn vào ngày 31/8/2015 tại UBND xã L, huyện T, tỉnh T. Vợ chồng chung sống được 03 ngày thì sảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T uống rượu say đánh đập chị nên chị đã bỏ về chung sống cùng bố mẹ đẻ. Tháng 9/2015 anh T đã bỏ đi đâu không xác định được địa chỉ. Chị M và gia đình, bạn bè tìm kiếm khắp nơi nhưng vẫn không có tin tức gì của anh T nên chị M yêu cầu Tòa án nhân dân huyện T tuyên bố anh Phạm Văn T là người mất tích. Tại Quyết định số 08/2018 ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện T đã tuyên bố anh Phạm Văn T là người mất tích. Kể từ ngày Tòa án tuyên bố anh T là người mất tich đến nay anh T vẫn không trở về địa phương. Vợ chồng đã sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ tình cảm từ tháng 9/2015 đến nay. Nay chị M nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Văn T.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lang Thị M và anh Phạm Văn T là hôn nhân hợp pháp tại vì anh chị đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật. Sau khi cưới hai ngày anh T uống rượu say và đánh đập chị M nên chị M bỏ về chung sống cùng bố mẹ đẻ. Vợ chồng sống ly thân luôn từ tháng 9/2015 đến nay. Tháng 9/2015 anh T đã bỏ đi khỏi địa phương không rõ địa chỉ, chị M đã yêu cầu Tòa án tuyên bố anh T là người mất tích. Tại Quyết định số 08/2018/QĐST - DS ngày 15/3/2018 Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân đã tuyên bố anh Phạm Văn T là người mất tích. Từ ngày Tòa án tuyên bố anh T là người mất tích đến nay anh T vẫn không có tin tức gì, chị M nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy cuộc hôn nhân của anh chị không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 2 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Lang Thị M ly hôn với anh Phạm Văn T là phù hợp. [2]. Về con chung và tài sản chung của vợ chồng không có nên không xem xét. [3]. Về án phí: Chị M phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hôn nhân: Căn cứ vào khoản 2 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Xử ly hôn giữa chị Lang Thị M và anh Phạm Văn T. 2. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH;

Buộc chị Lang Thị M phải chịu 300.000đ án phí DSST nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số: AA/2016/0000862 ngày 16/4/2018 của Chi cục Thi hành án huyện T.

Chị Lang Thị M được quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Phạm Văn T được quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ