vanban.org

Bản án 104/2018/HNGĐ-ST — Tranh chấp về cấp dưỡng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xét xử vắng mặt ông Võ Hồng Q.

Ông Võ Hồng Q có nghĩa vụ thanh toán cho bà Huỳnh Thị Hiền L khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung còn thiếu do thay đổi mức lương tối thiểu với tổng số tiền là 2.580.000 đồng (hai triệu năm trăm tám mươi ngàn đồng). Ông Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi người con chung tên Võ Phương H, sinh ngày 13/3/2004… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Bà L yêu cầu truy lãnh và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Xét xử vắng mặt ông Võ Hồng Q.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 03-8-2018
V/v yêu cầu truy lãnh và thay đổi mức
cấp dưỡng nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Kim Chung

2. Ông Nguyễn Văn Sum

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Lan Anh, là Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Thới Bình.

Trong ngày 03 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 355/2018/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2018 về tranh chấp “ truy lãnh và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2017/HNGĐ-QĐ ngày 16 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Hiền L, sinh năm 1965 (có mặt)

Địa chỉ: Khóm M, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau

2. Bị đơn: Ông Võ Hồng Q, sinh năm 1964 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn xin thay đổi mức cấp dưỡng ngày 29/3/2018, nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Hiền L trình bày:

Tại khoản 2 Quyết định công nhận sự hòa giải thành của các đương sự số 18/2012/QĐST-HNGĐ ngày 23/11/2012 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, có quy định: “Ông Võ Hồng Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi dạy cháu Võ Phương H, sinh ngày 19/3/2004 mỗi tháng 525.000 đồng kể từ tháng 11/2012 đến khi cháu Phương H tròn 18 tuổi. Đồng thời phải có nghĩa vụ truy trả số tiền cấp dưỡng nuôi cháu H kể từ tháng 5/2012 đến tháng 10/2012 là 1.800.000 đồng do mức lương cơ bản theo quy định pháp luật tăng”.

Do giá cả thị trường tăng mức lương cơ bản theo quy định của pháp luật cũng tăng. Trong thời gian qua, mức cấp dưỡng 525.000 đồng/tháng không còn phù hợp với cuộc sống hiện nay. Ông Q không tự giác nộp, cấp theo quy định từ thời điểm:

- Từ tháng 7/2013 đến 4/2016, tăng từ 1.050.000 đồng lên 1.150.000 đồng/tháng (mỗi tháng tăng 100.000 đồng) bằng 33 tháng x 100.000 đồng = 3.300.000 đồng/2 = 1.650.000 đồng.

- Từ tháng 5/2016 đến tháng 6/2017, tăng từ 1.150.000 đồng lên 1.210.000 đồng bằng 13 tháng x 60.000 đồng = 780.000 đồng/2 = 390.000 đồng.

- Từ tháng 7/2017 đến tháng 6/2018, tăng từ 1.210.000 đồng lên 1.300.000 đồng, mỗi tháng tăng 90.000 đồng bằng 12 tháng x 90.000 đồng = 1.080.000 đồng/2 = 540.000 đồng.

Tổng số tiền ông Q phải truy trả theo mức lương cơ bản tăng đến tháng 6/2018 là 2.580.000 đồng.

Kể từ tháng 7/2018, mức lương cơ bản tăng 1.390.000 đồng/tháng, ông Q phải cấp dưỡng nuôi cháu H mỗi tháng là 695.000 đồng. Kế tiếp trở về sau, nếu mức lương cơ bản tăng thì ông Q phải cấp dưỡng theo thời điểm quy định mới cho đến khi cháu H tròn 18 tuổi.

* Tại đơn xin có ý kiến, bị đơn là ông Võ Hồng Q trình bày:

Thi hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 18/2012/QĐST-HNGĐ ngày 23/11/2012 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, ông Q phải cấp dưỡng nuôi con theo mức lương khởi điểm tối thiểu do Nhà nước quy định là 525.000 đồng/tháng, tính từ tháng 11/2012, ông Q đã thi hành đến hết tháng 6/2018. Trước yêu cầu của bà L đưa ra, ông Q đồng ý thanh toán cho bà L khoản tiền chênh lệch do thay đổi mức lương tối thiểu để cấp dưỡng nuôi con với tổng số tiền là 2.580.000 đồng. Từ tháng 7/2018, ông Q đồng ý cấp dưỡng ½ tháng lương khởi điểm là 1.390.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Ông Q có đơn xin xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa hôm nay:

Bà L trình bày bổ sung: Cháu H là con trai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bị đơn là ông Q có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt ông Q.

Theo Quyết định công nhận sự hòa giải thành của các đương sự số 18/2012/QĐST-HNGĐ ngày 23/11/2012 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, thì kể từ tháng 11/2012, ông Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng bằng ½ tháng lương tối thiểu hiện hành với số tiền là 525.000 đồng/tháng. Thực tế, từ đó đến hết tháng 6/2018, Nhà nước đã 03 lần điều chỉnh lương cơ bản. Phía bà L có yêu cầu ông Q thanh toán khoản tiền cấp dưỡng nuôi con còn thiếu tương ứng với thời điểm và số tiền tăng lương cơ bản với tổng số tiền là 2.580.000 đồng. Yêu cầu này của bà L được phía ông Q đồng ý.

Bà L có yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Mức cấp dưỡng bằng ½ tháng lương tối thiểu hiện hành là 695.000 đồng/tháng, thời điểm cấp dưỡng được tính từ tháng 7/2018. Phía ông Q đồng ý với mức cấp dưỡng và thời điểm cấp dưỡng theo bà L đặt ra.

Trường hợp chậm thanh toán các khoản tiền nói trên, ông Q còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định.

Theo quy định tại Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình, thì việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, đối với yêu cầu của bà L về việc trường hợp thay đổi mức lương cơ bản thì ông Q phải thay đổi mức cấp dưỡng tương ứng không được giải quyết trong vụ án này.

Án phí đối với khoản tiền cấp dưỡng được truy lãnh và đối với nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ: Ông Q phải chịu. Trả lại cho bà L khoản tiền tạm ứng án phí.

Tại phiên tòa, bà L có mặt, nên thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án; ông Q vắng mặt nên thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 147, khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 82, 110, 116, 119 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Xét xử vắng mặt ông Võ Hồng Q.

2. Ông Võ Hồng Q có nghĩa vụ thanh toán cho bà Huỳnh Thị Hiền L khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung còn thiếu do thay đổi mức lương tối thiểu với tổng số tiền là 2.580.000 đồng (hai triệu năm trăm tám mươi ngàn đồng).

3. Ông Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi người con chung tên Võ Phương H, sinh ngày 13/3/2004 (giới tính: Nam) với mức cấp dưỡng hàng tháng bằng ½ tháng lương tối thiểu hiện hành là 695.000 đồng (sáu trăm chín mươi lăm ngàn đồng) cho đến khi con đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng được tính từ tháng 7 năm 2018.

4. Kể từ ngày bà L có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp ông Q không chịu thanh toán cho bà L số tiền nói trên, thì hàng tháng, ông Q còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

5. Ông Q phải chịu 300.000 đồng án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và 300.000 đồng án phí đối với nghĩa vụ thanh toán khoản tiền cấp dưỡng còn thiếu.

6. Trả lại cho bà L khoản tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005517 ngày 31/5/2018 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình phát hành.

7. Bà L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Q được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ