vanban.org

Bản án 104/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 11/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lã Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Giao bị cáo Lã Xuân T cho Ủy ban nhân dân xã Đại Lào, thành phố Bảo Lộc, t nh Lâm Đồng đ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo có sự thay đổi nơi cư trú thì việc t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lã Xuân T - Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lã Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẢO LỘC
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2017/HSST
Ngày:
11/12/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Quảng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tỵ, bà Nguyễn Thị Văn.

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuận - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Hòa - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 11 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2017/HSST, ngày 17 tháng 11 năm 2017, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lã Xuân T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1996; tại: Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn X, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; văn hóa: 4/12; nghề nghiệp: Phụ xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Lã Văn A, sinh năm 1960; con bà Đỗ Thị H, sinh năm 1965, cả hai trú tại Thôn X, xã Đ, thành phố B; bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình có sáu anh em; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, (Có mặt).

Người bị hại: Bà Phan Thị K, (Đã chết);

Người đại diện hợp pháp của bà K: Anh Nguyễn Sỹ C, sinh năm 1960, (Là con bà K);

Trú tại: Số X Quốc lộ 20, Thôn X, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lã Xuân T có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 do sở Giao thông vận tải tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 20/05/2015. Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 31/05/2017, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 70B1-320.XX lưu thông trên Quốc lộ 20 theo hướng từ Đà Lạt đi thành phố Hồ Chí Minh. Khi xe chạy đến Km 112 + 900 Quốc lộ 20, thuộc địa phận xã Lộc Châu, thành phố Bảo Lộc thì T phát hiện bà Phan Thị K, sinh năm 1936, trú tại Thôn X, xã L, thành phố B đang dắt xe đạp qua đường, theo hướng từ bên trái sang bên phải theo chiều đi của T. Khi phát hiện bà K dắt xe qua đường thì khoảng cách giữa xe của T và bà K khoảng 10m, T bóp còi và dùng tín hiệu đèn pha để cảnh báo, đồng thời điều khiển xe tránh về bên trái mà không giảm tốc độ, vì vậy xe mô tô của T đã tông vào bà K, hậu quả làm bà K chết còn T bị thương nặng phải cấp cứu tại Bệnh viện.

Hiện trường vụ tai nạn giao thông được xác định tại Km 112 + 900 Quốc lộ 20, thuộc địa phận xã Lộc Châu, thành phố Bảo Lộc. Mặt đường được trải nhựa bê tông thẳng, phẳng rộng 14,9m; ở giữa có vạch sơn đứt đoạn kẻ tim đường, phần đường bên phải theo hướng xe của T chạy rộng 7,3m, có vạch sơn đứt đoạn phân chia thành hai làn đường; làn đường bên trong rộng 3,8m; lấy mép đường bên phải theo hướng từ Đà Lạt đi thành phố Hồ chí Minh làm chuẩn, xác định vị trí các dấu vết như sau:

Số 1 là điểm đầu vết cày xước để lại trên mặt đường, kéo dài đến vị trí xe đạp đổ (số 2) là 14,4m, chiều hướng từ Đà Lạt đi thành phố Hồ Chí Minh và xiên vào mép đường chuẩn. Điểm đầu (số 1) cách mép đường chuẩn là 1,3m. Trục bánh trước xe đạp cách mép đường chuẩn là 0,2m; trục bánh sau xe đạp cách mép đường chuẩn là 0,1m.

Số 3 là vị trí vết máu của nạn nhân tại hiện trường, kích thước 15cmx15cm. Tâm vết máu cách mép đường chuẩn là 4,8m, cách tâm trục bánh sau xe đạp là 8,7m.

Số 4 là điểm đầu vết cày xước để lại mặt đường sau tai nạn, kéo dài đến vị trí xe mô tô biển số 70B1-320.XX đổ tại hiện trường là 2,2m. Điểm đầu vết cày xước cách mép đường chuẩn là 14m, cách tâm số 3 là 85,5m.

Số 5 là vị trí xe mô tô biển số 70B1-320.XX đổ tại mép đường bên trái, đầu xe quay về hướng thành phố Hồ Chí Minh, đuôi xe quay về hướng Đà Lạt. Hình chiếu tâm trục bánh trước xuống mặt đường cách, mép đường chuẩn là 15,8m, hình chiếu tâm trục bánh sau xuống mặt đường, cách mép đường chuẩn là 14,9m, cách điểm đầu (số 4) là 2,20 mét. Khu vực trước đầu xe có mảnh nhựa đèn xe bị vỡ.

Theo Kết luận giám định pháp y về tử thi số 190/2017/KLPY, ngày 12/06/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng thì bà Phan Thị K chết do nguyên nhân đa chấn thương do tai nạn giao thông.

Theo Kết luận giám định số 1024/GĐ-PC54, ngày 03/07/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, không đủ cơ sở kết luận tốc độ của xe mô tô biển số 70B1-320.XX và xe đạp tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông.

Tại bản Cáo trạng số 110/CT-VKS, ngày 16 tháng 11 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo Lã Xuân T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 202, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lã Xuân T từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.

Bị cáo Lã Xuân T khai nhận, đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì về nội dung Cáo trạng; bị cáo thấy đúng với tội của mình, xin được giảm nhẹ hình phạt. Đại diện gia đình bị hại (Anh Nguyễn Sỹ C) yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp số tiền 58.000.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị cáo Lã Xuân T đã học lái xe và được cấp Giấy phép lái xe hạng A1, bị cáo biết rõ khi điều khiển xe trên đường thì phải đi đúng tốc độ và chú ý quan sát để tránh tai nạn xảy ra, nhưng bị cáo đã không chấp hành. Vào ngày 31/5/2017 bị cáo đã điều khiển xe mô tô trong điều kiện trời tối, tầm nhìn bị hạn chế nhưng bị cáo đã không chú ý quan sát và chạy quá tốc độ; do đó khi phát hiện bà Phan Thị K dắt xe đạp qua đường thì khoảng cách đã quá gần, vì vậy bị cáo không xử lý kịp nên xe của bị cáo đã tông vào bà K, hậu quả làm bà K bị chết. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 23 Điều 8 và Luật giao thông đường bộ, có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất hành vi do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, hành vi trên không những xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người cùng tham gia giao thông khác mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, vì vậy cần phải lên cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng thấy rằng, bị cáo phạm tội lần đầu, thật thà khai báo; sau tai nạn đã bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình người bị hại; hơn nữa trong vụ tai nạn này thì người bị hại là bà Phan Thị K cũng có một phần lỗi, đó là khi qua đường không chú ý quan sát, do đó cần áp dụng các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS để giảm nhẹ cho bị cáo một phần. Xét thấy trong vụ tai nạn thì bản thân bị cáo cũng bị chấn thương sọ não cần tiếp tục điều trị, do đó không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra gia đình người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí mai táng, tổn thất về tinh thần với tổng số tiền 73.000.000đ, bị cáo đã bồi thường được 15.000.000đ. Nay đại diện gia đình người bị hại là anh Nguyễn Sỹ C yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp số tiền 58.000.000đ, bị cáo cũng đồng ý bồi thường, vì vậy cần buộc bị cáo bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền trên là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe mô tô.

Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí số 97/2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lã Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 202; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lã Xuân T 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lã Xuân T cho Ủy ban nhân dân xã Đại Lào, thành phố Bảo Lộc, t nh Lâm Đồng đ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo có sự thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án được thực hiện theo qui định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Buộc bị cáo bồi thường cho gia đình người bị hại (Do anh Nguyễn Sỹ C làm đại diện) số tiền 58.000.000đ (Năm mươi tám triệu đồng).

Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe mô tô mang tên Lã Xuân T (Đã trả).

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.900.000đ (Hai triệu chín trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện người bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi Hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ