vanban.org

Bản án 104/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 30/08/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Út khởi kiện bà Lê Thị Nhan và ông Phan Văn Mỹ hoàn trả số tiền vay và tiền hụi là 8.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà Võ Thị Út phải chịu 425.000đ. Ngày 08/6/2017 bà Út đã dự nộp 595.000đ tại lai số 0003234 được đối trừ chuyển thu sung quỹ nhà nước. Bà Út được hoàn lại 170.000đ khi bản án có hiệu lực. Bà Nhan, ông Mỹ không phải chịu án phí. Bà Út, Nhan, Xứng có quyền kháng cáo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp tiền vay và hụi"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Út khởi kiện bà Lê Thị Nhan và ông Phan Văn Mỹ hoàn trả số tiền vay và tiền hụi là 8.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104 /2017/DS-ST
Ngày 30 – 8 – 2017
V/v tranh chấp hợp đồng vay và hụi

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Tiến Sĩ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Chiến

Bà Trần Thị Cúc

- Thư ký phiên toà: Bà Tô Huyền Trang – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 30 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 241/2017/TLST-DS, ngày 08 tháng 6 năm 2017 về việc tranh chấp hợp đồng vay và hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 500/2017/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Út; cư trú tại số nhà 160, đường kinh xáng Bạc Liêu, khóm 6, phường 6, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. (có mặt).

- Bị đơn: Ông Phan Văn Mỹ, bà Lê Kim Nhan; cùng cư trú tại số nhà 112, đường Nguyễn Tất Thành, khóm 2, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau ( ông Mỹ vắng mặt, bà Nhan có mặt ).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan : Bà Nguyễn Thị Xứng; cư trú tại số nhà 62, đường kinh xáng Bạc Liêu, khóm 6, phường 6, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Võ Thị Út trình bày : Tháng 3/2016, bà Nhan có vay của bà 3.000.000 đồng, phương thức trả góp 40 ngày dứt điểm nợ gốc và lãi, bà Nhan đã góp xong. Đến ngày 06/7/2016, bà Nhan và ông Mỹ vay tiếp 3.000.000đồng, không có làm biên nhận, thỏa thuận đóng lãi bằng 30.000đ/ ngày. Bà Nhan và ông Mỹ chưa trả được khoản nợ gốc và lãi nào. Đến ngày 12/7/2016, bà Nhan và ông Mỹ vay thêm 1.000.000đ, không làm biên nhận, thỏa thuận đóng lãi 10.000đ/ ngày, khoản tiền này cũng chưa trả được vốn và lãi khoản nào. Ngày 16/7/2016 ông Mỹ và bà Nhan tiếp tục vay 3.000.000 đồng, không có biên nhận, thỏa thuận đóng lãi 30.000đ/ngày, việc cho vay này có bà Nguyễn Thị Xứng chứng kiến. Các khoản vay bà Nhan và ông Mỹ chưa trả được khoản nợ gốc và lãi nào. Ngoài ra ngày 16/8/2016, ông Mỹ bà Nhan tiếp tục nhờ bà bảo lãnh để vô 01 chân hụi do bà Nguyễn Thị Xứng làm chủ hụi, loại hụi ngày 50.000 đồng, bà Nhan hốt hụi và đóng hụi chết được 40 ngày, còn nợ lại 30 ngày không đóng hụi với số tiền 1.500.000 đồng. Nay bà yêu cầu Tòa án buộc ông Mỹ và bà Nhan phải trả cho bà số tiền nợ gốc và nợ hụi là 8.500.000 đồng , ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Bà Lê Kim Nhan trình bày : Năm 2015, bà có vay của bà Võ Thị Út 3.000.000 đồng, có làm biên nhận bà Út giữ, phương thức trả góp 90.000đ/ ngày, góp 40 ngày là dứt điểm nợ gốc và lãi, bà đã góp dứt điểm số tiền trên cho bà Út và bà có yêu cầu bà Út trả lại giấy biên nhận cho bà nhưng bà Út không trả mà cho rằng thời gian góp của bà kéo dài nên yêu cầu phải trả thêm 1.000.000đ nên bà không đồng ý và khoản nợ này không liên quan đến chồng bà là ông Phan Văn Mỹ. Còn về phần nợ hụi bà không có nhờ bà Út vô hụi giùm. Bà xác định không còn nợ khoản tiền nào nên không đồng ý theo yêu cầu của bà Út.

Bà Nguyễn Thị Xứng trình bày: Bà xác định bà Út có chơi 01 chân hụi ngày do bà làm chủ, loại hụi 50.000đ, dây hụi gồm 70 chân, trong sổ hụi là tên của bà Út, bà Út cũng là người đóng tiền hụi, chân hụi này bà Út hốt hụi và đóng hụi đến lần thứ 40 thì ngưng cho đến nay, còn nợ lại 30 lần bằng số tiền 1.500.000 đồng. Bà có chứng kiến việc bà Út hốt hụi rồi đưa tiền cho bà Nhan. Đồng thời vào ngày 16/7/2016 bà có chứng kiến việc bà Út cho bà Nhan vay 3.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

về thủ tục tố tụng ông Phan Văn Mỹ được triệu tập đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo luật định.

Về quan hệ tranh chấp được xác định là hợp đồng vay tài sản và hụi. Tại tòa bà Út xác định vợ chồng bà Nhan, ông Mỹ còn nợ bà các khoản tiền vay 7.000.000đ và tiền hụi là 1.500.000đ. Tổng cộng hai khoản là 8.500.000đ. Phía bà Nhan thì cho rằng hiện không có nợ bà Út khoản tiền nào nên không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn.

Qua xem xét Hội đồng xét xử thấy rằng :

-Về khoản tiền vay 3.000.000đ vào tháng 3 năm 2016, tuy ngày tháng năm nguyên và bị đơn không thống nhất với nhau, nhưng số tiền này các bên đều thừa nhận có giao dịch và đã thanh toán xong và không có yêu cầu gì nên không đặt ra việc giải quyết.

-Về khoản tiền vay 7.000.000đ vào các ngày 06/7/2016; ngày 12/7/2016 và ngày 16/7/2016, quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên Tòa bà Út không cung cấp được một chứng cứ nào để chứng minh cho việc bà Nhan và ông Mỹ vay số tiền này nên yêu cầu của bà Út là không có cơ sở chấp nhận.

-Về số tiền hụi 1.500.000đ, tại Tòa bà Xứng là chủ hụi xác định việc chơi hụi, hốt hụi và đóng hụi chết đều do bà Út giao dịch chứ bà Nhan không có chơi hụi của bà, do đó việc bà Út cho rằng bà vô hụi giùm bà Nhan là không có căn cứ, vì vậy bà Út khởi kiện bà Nhan yêu cầu trả số tiền hụi 1.500.000đ là không có cơ sở chấp nhận.

Đối với bà Nguyễn Thị Xứng, tại phiên Tòa bà xác định bà trực tiếp đưa tiền cho bà Út 3.000.000đ nên bà Út là người có trách nhiệm trả cho bà chứ không phải bà Nhan, vì bà không biết bà Nhan là ai, nay bà Út kêu bà ra làm chứng bà chỉ biết vậy thôi chứ bà không biết gì khác, do vậy lời trình bày của bà Xứng chỉ mang tính tham khảo chứ không phải là chứng cứ để quyết định vụ án. Hơn nửa việc giao dịch tiền giữa bà Xứng và bà Út, nay bà Xứng không có yêu cầu gì nên không đặt ra việc xem xét. Nếu sau này đôi bên có tranh chấp thì khởi kiện thành vụ án dân sự khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, do không được chấp nhận yêu cầu nên bà Út phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ các Điều 463, 465, 466 , 468, 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Không chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Út khởi kiện bà Lê Thị Nhan và ông Phan Văn Mỹ hoàn trả số tiền vay và tiền hụi là 8.500.000đ.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà Võ Thị Út phải chịu 425.000đ. Ngày 08/6/2017 bà Út đã dự nộp 595.000đ tại lai số 0003234 được đối trừ chuyển thu sung quỹ nhà nước. Bà Út được hoàn lại 170.000đ khi bản án có hiệu lực. Bà Nhan, ông Mỹ không phải chịu án phí.

Bà Út, Nhan, Xứng có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Mỹ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ