vanban.org

Bản án 103

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Phạm Thanh S 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân Phường 2, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 103/2020/HS-ST
Ngày: 09-11-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Huệ Chi

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Ngọc Hằng

Bà Nguyễn Thị Xuyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện VKSND Quận 3, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Nhã – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 496/2020/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

Phạm Thanh S, sinh năm 1982; tại TP. Hồ Chí Minh; nơi cư trú: số 70 đường L, Phường 2, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thanh Đ và bà Nguyễn Thị Kim H; tiền án: không; tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 07/8/2020; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Phạm Thanh Đ, sinh năm 1947 (cha ruột) (Có mặt).

Địa chỉ: số 70 đường L, Phường 2, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Minh H là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

- Bị hại: Bà Đoàn Thị Ánh L, sinh năm 1997 (Vắng mặt).

Địa chỉ: số 70 đường L, Phường 2, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 08/6/2020, bà Đoàn Thị Ánh L chạy xe máy hiệu Yamaha Janus, màu đen, biển số 59F1 - 906.25 để ở góc sân trong khu nhà tập thể số 70 đường L, Phường 2, Quận 3 rồi lên nhà đi ngủ. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 09/6/2020, Phạm Thanh S đi xuống sân nhà tập thể số 70 đường L, Phường 2, Quận 3 thì phát hiện một chiếc xe máy hiệu Yamaha Janus, biển số 59F1 - 906.25 đang dựng tại khu vực sân nhà tập thể, không ai trông coi, xe không khóa cổ nên S nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy trên để bán lấy tiền tiêu xài. S ngồi lên yên xe và lùi xe ra khỏi nhà số 70 đường L, Phường 2, Quận 3, rồi dắt bộ dọc theo đường L qua các tuyến đường. Khi đến số 70 Lý Chính Thắng thì bị tổ tuần tra Đội Cảnh sát hình sự - Công an Quận 3 phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành đưa về trụ sở công an làm rõ vụ việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Quận 3, Phạm Thanh S thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như trên, phù hợp với lời khai của người bị hại, hình ảnh camera an ninh, kết quả chỉ điểm, thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Ngày 15/6/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Quận 3 ra Quyết định số 161 trưng cầu Trung tâm Pháp Y Tâm Thần Khu Vực Thành phố Hồ Chí Minh đối với Phạm Thanh S.

Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần số 1448/KLGĐ ngày 06/7/2020 của Trung Tâm Pháp Y Tâm Thần Khu Vực Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- Về y học: Trước, trong và sau khi gây án ngày 09/6/2020, Phạm Thanh S có các rối loạn tâm thần không biệt định do tổn thương não và rối loạn chức năng não và bệnh lý cơ thể/Bệnh HIV (F60.0/B20-ICD10).

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, trong và sau khi gây án ngày 09/6/2020, Phạm Thanh S có hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Ngày 26/6/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an Quận 3 có Công văn số 747 đề nghị Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước – Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh cử luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKS-HS ngày 17/4/2020, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đầy đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 09/6/2020, tại sân nhà tập thể số 70 đường Lý Thái Tổ, Phường 2, Quận 3, Phạm Thanh S đã lén lút lấy trộm một chiếc xe máy hiệu Yamaha Janus, biển số 59F1 - 906.25 của bà Đoàn Thị Ánh L với trị giá 11.500.000 đồng (theo Kết luận định giá số 85/ KL-HĐĐGTS ngày 07/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự Quận 3). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo hiểu việc chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm mới đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn, hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Ngoài ra, tài sản đã được giao trả cho bị hại và bị cáo còn bị bệnh HIV nên áp dụng các tình tiết quy định tại điểm i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Căn cứ vào thu nhập và hoàn cảnh của bị cáo Hội đồng xét xử không khấu trừ thu nhập của bị cáo để sung quỹ Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử không giải quyết thêm.

Đối với một USB chứa hình ảnh bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lưu kèm theo hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, Trợ giúp viên pháp lý trình bày phần bào chữa cho bị cáo: Thống nhất về tội danh như Viện kiểm sát Quận 3 truy tố và nêu các tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, q, s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tình trạng sức khỏe của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét lời đề nghị của luật sư bào chữa là có cơ sở, nghĩ nên chấp nhận một phần.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 36; điểm i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ các Điều 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Phạm Thanh S 01 (một) năm cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân Phường 2, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao Phạm Thanh S cho Ủy ban nhân dân Phường 2, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Một (01) USB chứa hình ảnh bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 09/6/2020 tại số 70 đường Lý Thái Tổ, Phường 2, Quận 3 lưu kèm theo hồ sơ vụ án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, Trợ giúp viên pháp lý được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh trong trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ