- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị G và anh Th"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị G. Cho chị Phạm Thị G được ly hôn với anh Huỳnh Văn Th.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27-11-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Tấn Dũng.
2. Ông Nguyễn Tuấn Lam.
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Y Phụng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Bình Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 264/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2025, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 257/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị G, sinh ngày 06 tháng 4 năm 1989; Nơi cư trú: Khóm VL, xã VTT, tỉnh An Giang. Có đơn xin vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn Th, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Ấp A, xã TP, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 7 năm 2025 và biên bản lấy lời khai ngày 20 tháng 10 năm 2025 của nguyên đơn chị Phạm Thị G trình bày: Vào tháng 6 năm 2016, chị với anh Huỳnh Văn Th, trước khi cưới thì có tìm hiểu được hơn 01 năm, vợ chồng chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi cưới hai vợ chồng chị cùng đi làm ở Đồng Nai. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Khi hết mùa dịch Covid thì anh Th tự ý bỏ về quê sinh sống, khoảng 01 năm sau thì chị mới nói với anh Th là vợ chồng về cùng làm ăn sinh sống, nên anh Th quay lại Đồng Nai sống chung và cùng đi làm, nhưng anh Th lại lo cờ bạc, không quan tâm chăm sóc con cái, còn gây nợ nần. Đến tháng 8 năm 2024 thì anh Th tự động bỏ đi, không nói gì với vợ con và cả hai không còn sống chung từ đó cho đến nay, trong thời gian không còn sống chung thì chị và anh Th không có liên lạc gì với nhau. Chị nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không hàn gắn tình cảm được nữa, nên chị yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn với anh Huỳnh Văn Th. Về con chung: Chị và anh Th có được 01 con chung tên Huỳnh Thị Th1, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2017, hiện đang sống chung với chị, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Th1, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản khai đề ngày 24 tháng 9 năm 2025 cháu Huỳnh Thị Th1 trình bày: “Cha mẹ ly hôn, con muốn sống với mẹ”.
Trong quá trình tiến hành tố tụng bị đơn anh Huỳnh Văn Th đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Huỳnh Văn Th vẫn không có mặt và không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của chị G.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ các Điều 9, 14, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Phạm Thị G được ly hôn với anh Huỳnh Văn Th; Về con chung: Giao con chung Huỳnh Thị Th1, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2017 cho chị G tiếp tục nuôi dưỡng, anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con do chị G không có yêu cầu; Về tài sản, nợ chung: Chị G trình bày không có, còn anh Th không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đây là vụ kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Nguyên đơn chị Phạm Thị G có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Huỳnh Văn Th đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham dự phiên tòa sơ thẩm nhưng anh Th vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Phạm Thị G và anh Huỳnh Văn Th là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị G đối với anh Huỳnh Văn Th, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị G thì cuộc sống của chị và anh Th đã bắt đầu có sự mâu thuẫn từ sau khi dịch bệnh Covid kết thúc và mâu thuẫn trầm trọng từ tháng 8 năm 2024, nguyên nhân do anh Th cờ bạc, không quan tâm chăm sóc con cái, còn gây nợ nần. Trong thời gian không còn sống chung thì chị G và anh Th không có liên lạc gì với nhau. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị G và anh Th hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị G là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Phạm Thị G được ly hôn với anh Huỳnh Văn Th.
Về việc nuôi con chung: Chị Phạm Thị G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Huỳnh Thị Th1, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2017, Hội đồng xét xử xét thấy hiên nay con chung đang do chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đồng thời, cháu Huỳnh Thị Th1 trình bày có nguyện vọng được sống với mẹ, vì vậy để ổn định cuộc sống của cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị G tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con do chị G không có yêu cầu và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Thị G cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Huỳnh Văn Th không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị G. Cho chị Phạm Thị G được ly hôn với anh Huỳnh Văn Th.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Chị Phạm Thị G được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con chung Huỳnh Thị Th1, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2017.
2.2. Anh Huỳnh Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con.
2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí sơ thẩm: Chị Phạm Thị G phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ đi tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0003173 ngày 01 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, chị G không phải nộp thêm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND khu vực 12-Đồng Tháp; - UBND xã TP, tỉnh Đồng Tháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lương Bằng |